MangYTe

Bạn nên biết hôm nay

Ai có nguy cơ bị nhiễm xạ?

Bên cạnh những hiệu quả to lớn trong công nghiệp, y học thì các chất phóng xạ và các tia bức xạ cũng gây ra những hậu quả vô cùng nguy hiểm cho sức khỏe con người
Mục lục
Bên cạnh những hiệu quả to lớn trong công nghiệp, y học thì các chất phóng xạ và các tia bức xạ cũng gây ra những hậu quả vô cùng nguy hiểm cho sức khỏe con người nếu sự tác động vượt quá giới hạn an toàn.

Đâu là giới hạn liều an toàn?

Từ những năm 30, ICRP (Ủy ban Quốc tế về An toàn bức xạ) đã khuyến cáo nên hạn chế tối đa việc tiếp xúc với tia phóng xạ quá liều an toàn. Khuyến cáo đó được bổ sung bằng những khuyến cáo giới hạn liều được điều chỉnh hàng năm. Các giới hạn khuyến cáo gần đây nhất được đưa ra năm 1990. Nó không là giới hạn bắt buộc, nhưng đã được thông qua như là quy tắc luật pháp ở nhiều nước. Đối với công nhân: Theo khuyến cáo của ICRP, thì mức liều đối với công nhân không nên vượt quá 50 mSv/năm và liều trung bình cho 5 năm không được vượt quá 20 mSv. Nếu một phụ nữ mang thai làm việc trong điều kiện bức xạ, thì giới hạn liều nghiêm ngặt hơn cần được áp dụng là 2 mSv.

Đối với công chúng: Giới hạn liều đối với công chúng nói chung thấp hơn đối với công nhân. ICRP khuyến cáo rằng giới hạn liều đối với công chúng không nên vượt quá 1 mSv/1 năm.

Đối với bệnh nhân: ICRP không có khuyến cáo giới hạn liều đối với bệnh nhân. Trong khám bệnh và điều trị bằng xạ trị, liều chiếu có thể tăng gấp hàng trăm lần so với giới hạn liều đối với công nhân. Bởi vì liều xạ được dùng là để xác định bệnh và để chữa bệnh, nên hiệu quả của điều trị được xem là cần thiết hơn ngay cả khi phải dùng đến liều cao.

Những nghề, công việc có nguy cơ mắc bệnh

Nhóm thứ nhất là những người lao động làm việc tại các cơ sở sản xuất chất phóng xạ như: mỏ uran, nhà máy xử lý quặng uran, nhà máy khai thác, tách các đồng vị uran, các lò phản ứng, các trung tâm nghiên cứu, các nhà máy sản xuất plutoni, các cơ sở điện hạt nhân, các cơ sở khai thác, nghiên cứu, sản xuất nguyên tố phóng xạ, các đơn vị vận chuyển, lưu chứa chất thải phóng xạ.

Nhóm thứ hai là những người sử dụng các tia bức xạ ion hóa từ những nguyên tố phóng xạ trong các ngành công nghiệp, ngành y tế, ngành nông nghiệp, ngành sinh học và ngành sinh hóa học.

Nhóm thứ ba là những người sử dụng máy phát tia X, nhất là các khoa điện quang y tế.

Biểu hiện khi bị nhiễm xạ

Thể nhẹ: Rối loạn điều hòa thần kinh, huyết áp động mạch hạ, mạch nhanh và loạn nhịp xoang, rối loạn vận động ruột và chức năng mật, dễ kích thích.

Thể tiến triển: Biểu hiện lâm sàng và điện tim của chứng loạn dưỡng cơ tim với huyết áp động mạch hạ kéo dài; giảm sản tủy xương kéo dài (giảm bạch cầu hạt và limphô bào), giảm tiểu cầu; rối loạn chức năng buồng trứng, ít kinh nguyệt ở nữ giới.

Viêm da mạn tính do nhiễm xạ ngoại chiếu: Loạn cảm giác, đau, ngứa, da khô, loạn dưỡng móng tay, tăng sừng hóa, sung huyết, nứt nẻ, loét da, đục nhân mắt.

Dấu hiệu muộn: Ung thư da, ung thư xương, bạch cầu tủy, ung thư thượng bì phổi.

Điều trị và dự phòng thế nào?

Bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp tuy không có thuốc điều trị đặc hiệu, nhưng cần chú ý điều trị toàn diện, thực hiện tốt chế độ nghỉ dưỡng; ăn uống đủ chất đạm và vitamin như B12, B6, thuốc chống chảy máu (vitamin P, K, rutin), truyền máu... Để dự phòng: Cần tránh xa nguồn phóng xạ khi thao tác; phải dùng các kẹp dài hoặc các phương tiện điều khiển từ xa, vì lượng chiếu xạ giảm rất nhanh theo khoảng cách. Có tường, màn che chắn phù hợp với từng loại tia khác nhau bởi một tia phóng xạ (tia X, alpha, bêta, gamma, nơtron...) mất đi một phần hoặc toàn phần năng lượng khi đâm xuyên qua tường, các loại màn che. Bên cạnh đó cũng cần chú ý liều phóng xạ phát ra giảm dần theo thời gian, do vậy cần chú ý đến thời gian an toàn được khuyến cáo cho từng loại tia phóng xạ.

Khi làm việc hoặc thao tác với chất phóng xạ, cần mặc quần áo bảo hộ lao động và trang bị phòng hộ khác, được đeo tấm chì, đi găng tay cao su pha chì, mặc quần áo không thấm nước và tắm giặt sau giờ làm việc; điều này có tác dụng bảo vệ chống sự nhiễm xạ ngoại chiếu, nội chiếu và phần nào chống sự chiếu xạ. Khám sức khỏe định kỳ 3 hoặc 6 tháng một lần, chú ý xét nghiệm máu để phát hiện sớm các biểu hiện bệnh lý do phóng xạ. Đặc biệt cần chú ý đến các tổn thương mạn tính ở ngoài da của những người có nguy cơ cao, những người thường xuyên tiếp xúc với nguồn phát xạ.

Các chất phóng xạ có thể xâm nhập cơ thể qua da, hoặc đường tiêu hóa hay hơi thở. Sự tác động của phóng xạ vào cơ thể qua nhiều loại bức xạ khác nhau như tia X, alpha, beta, gamma... Bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp là tình trạng bệnh lý của cơ thể bị nhiễm xạ do tiếp xúc với tia phóng xạ ở nơi làm việc có nguồn phóng xạ tự nhiên hoặc nhân tạo, tia X, có liều chiếu xạ vượt quá giới hạn tối đa cho phép.

ThS. Nguyễn Vân Anh

Nguồn: Internet
Từ khóa: nhiễm xạ

Chủ đề liên quan:

nguy cơ nhiễm xạ
  • Những thực phẩm tăng nguy cơ sẩy thai

    Những thực phẩm tăng nguy cơ sẩy thai
    Với nhu cầu dinh dưỡng ngày càng tăng theo thai kỳ thì việc thai phụ tăng cường bổ sung thực phẩm là điều cần thiết.
  • Thai nghén có nguy cơ

    Thai nghén có nguy cơ
    Thai nghén có nguy cơ là những trường hợp có thai kèm theo các yếu tố không bình thường về phía mẹ hoặc phía con có thể gây khó khăn, tai biến trong lúc có thai hoặc sinh đẻ sau này, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tính mạng của cả mẹ và con. Các yếu tố không bình thường đó gọi là yếu tố nguy cơ.
  • Căng thẳng, trầm cảm tăng nguy cơ tử vong ở bệnh nhân tim mạch

    Căng thẳng, trầm cảm tăng nguy cơ tử vong ở bệnh nhân tim mạch
    Nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học tại Trung tâm Y tế Đại học Columbia, NewYork (Mỹ) cho thấy...
  • Dùng thuốc giảm mỡ máu statin, tăng nguy cơ đái tháo đường

    Dùng thuốc giảm mỡ máu statin, tăng nguy cơ đái tháo đường
    Đó là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học tại Đại học Đông (Phần Lan).
  • Sa sút trí tuệ - Nguy cơ và cách phát hiện

    Sa sút trí tuệ - Nguy cơ và cách phát hiện
    Sa sút trí tuệ (SSTT) là sự suy giảm chức năng trí tuệ và nhận thức, dẫn đến giảm khả năng hoạt động sống hàng ngày.
  • Phòng chống nguy cơ loãng xương ở người cao tuổi

    Phòng chống nguy cơ loãng xương ở người cao tuổi
    Loãng xương là bệnh lý của toàn hệ thống xương làm suy yếu sức mạnh của toàn khung xương, ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống của số đông người có tuổi, đặc biệt là phụ nữ.
  • Người cao tuổi với nguy cơ suy dinh dưỡng

    Người cao tuổi với nguy cơ suy dinh dưỡng
    Suy dinh dưỡng ở người cao tuổi là tình trạng gầy yếu do ăn quá ít hoặc ăn không cân đối giữa các thức ăn cơ bản là đạm, đường, chất béo. Một người được coi là suy dinh dưỡng khi bị sụt từ 5 - 10% trọng lượng cơ thể trong vòng 6 tháng tới một năm.
  • Nguy cơ gãy xương ở người có tuổi

    Nguy cơ gãy xương ở người có tuổi
    Ở người lớn tuổi hay có tình trạng loãng xương nên vị trí chỗ yếu này càng yếu hơn, chỉ cần một lực tác động rất nhỏ cũng có thể gây gãy xương. Người lớn tuổi chủ yếu bị gãy cổ xương đùi trong tai nạn sinh hoạt: trượt té trong nhà tắm,
  • Thể dục với bệnh tim - Lợi ích và nguy cơ

    Thể dục với bệnh tim - Lợi ích và nguy cơ
    Chúng ta đều biết tập thể dục có lợi cho sức khỏe tim mạch. Những người tập thể dục thường xuyên ít bị các bệnh mạch vành hơn.
  • Nguy cơ tiềm ẩn từ nội tạng động vật

    Nguy cơ tiềm ẩn từ nội tạng động vật
    Mặc dù đã có rất nhiều lời cảnh báo từ các cơ quan chức năng cũng như các chuyên gia dinh dưỡng về hậu quả của việc sử dụng các thực phẩm nội tạng không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm
1  ... Tiếp »