MangYTe

Chẩn đoán và điều trị bệnh nội tiết hôm nay

Đái tháo nhạt: chẩn đoán và điều trị

Đái tháo nhạt là bệnh ít gặp, có đặc điểm là người bệnh luôn có cảm giác khát và số lượng nước tiểu rất nhiều, tỷ trọng thấp. Các tính chất khác của nước tiểu bình thường.
Mục lục

Chức năng thùy trước tuyến yên được kiểm soát nhờ sự điều hòa sản xuất các hormon vùng dưới đồi và nhờ cơ chế feedback trực tiếp. Thùy sau tuyến yên nhận hormon chống bài niệu (ADH) và Oxytocin từ vùng dưới đồi rồi bài tiết các hormon này dưới sự kiểm soát của hệ thần kinh trung ương. Các hormon vùng dưới đồi thường kích thích thủy trước tuyến yên trừ dopamin lại ức chế tuyến yên tiết prolactin tự phát.

Bảng. Các hormon tuyến yên

1GH rất giống với chất sinh sữa ở rau thai người (hPL).

2LH rất giống với hCG.

3AVP giống với hormon chống bải niệu (ADH).

Những điểm thiết yếu trong chẩn đoán

Đái rihiều (2- 20 lít/ngày), uống nhiều.

Tỷ trọng nước tiểu thường dưới 1,006 khi uống nước tự do.

Vasopressin làm giảm thể tích nước tiểu trừ đái tháo nhạt do thận.

Nhận định chung

Đái tháo nhạt là bệnh ít gặp, có đặc điểm là người bệnh luôn có cảm giác khát và số lượng nước tiểu rất nhiều, tỷ trọng thấp. Các tính chất khác của nước tiểu bình thường. Nguyên nhân do thiếu hụt hoặc đề kháng với vasopressin. Có thể phân loại các nguyên nhân như sau:

Thiếu vasopressin

Đái tháo nhạt tiên phát (không thấy tổn thương tuyến yên và vùng dưới đồi trên phim chụp cộng hưởng từ) có thể có tính chất gia đình, xảy ra như là bệnh di truyền trội hoặc đơn phát vô căn). Có thể gặp đái tháo nhạt trong hội chứng Wolfram là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường hiếm gặp gồm đái tháo nhạt, đái tháo đường, teo gai thị và điếc (viết tắt tiếng Anh là DIDMOAD - diabes insipidus, diabetes mellitus, optic atrophy, deaíhess).

Đái tháo nhạt thứ phát do tổn thương phá hủy vủng dưới đồi hoặc cuống yên do bệnh não thiếu oxy, phẫu thuật hoặc chấn thương, nhiễm khuẩn (viêm não, lao, giang mai), bệnh sarcoid hoặc u tế bào hạt Langerhans đa ổ (histiocytosis X). Ung thư di căn vào tuyến yên thường gây đái tháo nhạt hơn bệnh mô bào X- adenoma tuyến yên (33% so với 1%).

Đái tháo nhạt do vasopérssinase có thể xuất hiện ở 3 tháng cuối thời kỳ thai nghén và thời kỳ sau đẻ. bệnh thường phối hợp với sản giật và rối loạn chức năng gan. nguyên nhân do có enzym lưu hành trong máu phần hủy vasopressin; tuy nhiên desmopressin tổng hợp thì lại không bị ảnh hưởng. bệnh thường đáp ứng với điều trị bằng desmopressin và tự khỏi.

Đái tháo nhạt thận

Bệnh do bất thường ở ống thận nơi có nhiệm vụ tái hấp thu nước, bệnh nhân có đái nhiều không đáp ứng với điều trị vasopressin. các bệnh nhân này thường có bài tiết vasopressin bình thường. bệnh có tính chất gia đình, liên quan đến nhiễm sắc thể x, các bệnh nhân là người lớn thường có tăng urê máư. dạng đái tháo nhạt mắc phải có kháng vasopressin gặp ở bệnh nhân viêm đài bể thận, thoái hóa dạng tinh bột ở thận, u tủy, giảm kali máu, hội chứng sjogren, thiếu máu hồng cầu hình liềm hoặc tăng calci máu mạn tính. bệnh có thể là hậu quả của điều trị glucocorticoíd hoặc do tác dụng phụ cấp tính của thuốc lợi tiểu. một số thuộc như demeclocyclin, lithium, foscarnet hoặc methicillin có thể gây đái tháo nhạt. trong giai đoạn hồi phục của hoại tử ống thận cấp có thể gặp đái tháo nhạt thận thoáng qua.

Triệu chứng và dấu hiệu

Các triệu chứng gồm khát dứ dội (đặc biệt rất thèm nước đá) và đái nhiều, thể tích nước uống hàng ngày tới 2 - 20 lít tương đương với thể tích nước tiểu. đái tháo nhạt bán phần có các triệu chứng nhẹ hơn và nên nghi ngờ đái tháo nhạt bán phần ở người hay bị đái dầm do không giữ được nước tiểu. bệnh nhân đái tháo nhạt có thể có mất nước và tăng natri máu, đặc biệt nếu bệnh xuất hiện sau khi có tổn thương vùng dưới đồi do sốc hoặc thiếu oxy.

Các dấu hiệu cận lâm sàng

Các xét nghiệm cần làm là đo thể tích nước tiểu và xét nghiệm glucose, creatinin niệu/ 24 giờ, đo glucose, ure, calci, kali và natri huyết thanh.

Để chẩn đoán đái nhiều và tăng natri máu do đái tháo nhạt chủ yếu dựa vào lâm sàng. không có xét nghiệm labo đơn thuần nào đủ để chẩn đoán. nếu lâm sàng gợi ý có đái tháo nhạt trung ương (và không thấy có nguyên nhân nào khác gây đái nhiều: xem phầri chẩn đoán phân biệt ở dưới) thì có thể làm test kích thích vasopressin (vasopressin challenge test) bằng cách cho desmopressin acetat liều khởi đầu là 0,05 - 0,1 ml (5 - 10µ) xịt mũi hoặc 1 µ tiêm dưới da hoặc tĩnh mạch và đo thể tích nước tiểu trong 12 giờ trước và 12 giờ sau dùng thuốc. phải'đo ngay natri máu nếu có triệu chứng của hạ natri máu. nếu đáp ứng không rõ ràng thì tăng gấp đôi liều desmopressin. các bệnh nhân bị đái tháo nhạt trung ương thực sự sẽ giảm rõ rệt cảm giác khát và đái nhiều. natri máu thường được giữ ở giới hạn bình thường trừ một vài trường hợp mất muối.

Khi nghi ngờ là đái tháo nhạt thận cần đo nồng độ vasopressin huyết thanh trong khi đang hạn chế uống nước, thường thì vasopressin ở mức cao.

Ở các bệnh nhân đái tháo nhạt trung ương không có tính chất gia đình, thường tiến hành chụp cộng hưởng từ tuyến yến, vùng dưới đồi và sọ để tìm các tổn thương choán chỗ. không có các châm sáng (bright spot) ở thùy yên sau trên lớp cắt t1 là dấu hiệu gợi ý đái tháo nhạt trung ương.

Chẩn đoán phân biệt đái nhiều

Cần phân biệt đái tháo nhạt trung ương với đái nhiều do hội chứng cushing hoặc do điều trị bằng glucocorticoid, lithum và đái nhiều về đêm trong bệnh parkinson. cũng phải phân biệt với trường hợp uống quá nhiều nước ở người uống nhiều tâm thần, bệnh sarcoid hệ thần kinh trung ương và truyền dịch nhiều.

Phân biệt đái tháo nhạt trung ương với đái tháo đường bằng kiểm tra đường niệu. Cũng cần phân biệt với đái tháo nhạt thận.

Biến chứng

Nếu không uống đủ nước thì đái quá nhiều sẽ gây mất nước nặng. các bệnh nhân bị bất hoạt cơ chế gây khát dễ bị tăng natri máu. tất cả các biến chứng của bệnh có thể chính là các bằng chửng để chẩn đoán bệnh, ở các bệnh nhân được điều trị chống bài niệu có thể gây ngộ độc nước.

Điều trị

Desmopressin

Desmopressin acetat là sự lựa chọn cho điều trị đái tháo nhạt trung ương. nó cũng có thể có tác dụng ở bệnh nhân đái tháo nhạt trong thời kỳ có thai hoặc ở cữ vì desmopressin không bị phân hủy bởi enzym vasopressinase lưu hành. để kiểm soát hiện tượng khát và đái nhiều thường dùng dạng nhỏ mũi (dung dịch 100µ/ml) mỗi 12 - 24 giờ. cũng có thể dùng dạng xịt chứa 0,1 ml/lần xịt hoặc qua một ống nhựa có chia sẵn đơn vị, liều khởi đầu là 0,05 - 0,10 ml mỗi 12 - 24 giờ sau đó sẽ điều chỉnh theo sự đáp ứng của từng bệnh nhân.

Desmopressin còn có dạng tiêm chứa 4µ/ml. để điều trị khát và tăng natri máu trong đái tháo nhạt trung ương có thể tiêm tĩnh mạch, tiêm bắp hoặc tiêm dưới da liều 1- 4pg mỗi 12 - 24 giờ.

Ngoài ra còn có desmopressin dạng viên uống 0,1 hoặc 0,2 mg/viên, với liều khởi đầu 0,1 mg/ngày và tăng tới liều tối đa 0,2 mg mỗi 8 giờ nếu cần.

Do thuốc thường gây tăng nhẹ men gan nên không dùng cho bệnh nhân có bệnh gan. thuốc có thể gây mệt mỏi và kích ứng dạ dày ruột.

Các tác dụng phụ của desmopressin gồm kích ứng mũi, đôi khi gây trạng thái kích động, đầu chi đỏ và đau. thường không có hiện tượng giảm natri máu nếu dùng liều desmopressin thấp nhất có tác dụng và bệnh nhân còn khát cách quãng.

Các biện pháp khác

Các bệnh nhân nhẹ không cần điều trị gì ngoài cho uống đủ nước. làm giảm các yếu tố gây nặng bệnh (ví dụ các glucocorticoid trực tiếp làm tăng lọc nước tự do qua thận) sẽ hạn chế đái nhiều. cả đái tháo nhạt trung ương và đái tháo nhạt do thận đều có đáp ứng một phần với hydrochlorothiazid liều 50 - 100 mg/ngày (phải bố sung amilorid hoặc kali). chlorpropamid đôi khi có tác dụng với đái tháo nhạt trung ương và có thể làm giảm cảm giác khát ở những bệnh nhân có tăng natri máu tái diễn; tuy nhiên thường chỉ dùng chlorpropamid cho những trường hợp đặc biệt vì có nguy cơ gây hạ đường huyết. đái tháo nhạt thận cũng có thể đáp ứng với điều trị phối hợp indomethacin - hydrochlorothiazid, indomethacin - desmopressin hoặc indomethacin - amilorid, indomethacin liều 50 mg/ mỗi 8 giờ có tác dụng nhanh.

Liệu pháp tâm lý cần cho đa số các bệnh nhân bị ám ảnh bởi uống nước.

Cần tuyệt đối tránh dùng trioridazin và lithium khi có chỉ định dùng các thuốc vì các thuốc này gây đái nhiều.

Tiên lượng

Đái tháo nhạt trung ương xuất hiện sau phẫu thuật tuyến yên thường tự ổn định sau vài ngày đến vài tuần nhưng có thể vĩnh viễn nếu cuống trên tuyến yên bị cắt.

Đái tháo nhạt trung ương nặng lên thoáng qua do dùng glucocorticoid liều cao xung quanh cuộc mổ.

Đái tháo nhạt mạn tính có nhiều điều bất tiện hơn là một bệnh nặng. điều trị bằng desmopressin cho phép bệnh nhân có giấc ngủ và làm việc bình thường. bệnh nhân có thể bị tăng natri máu, đặc biệt khi có tổn thương trung tâm khát nhưng bản thân bệnh đái tháo nhạt không làm giảm tuổi thọ và do đó tiên lượng tùy thuộc bệnh cụ thể.

Nguồn: Internet.
Nguồn: Điều trị (https://www.dieutri.vn/chandoannoitiet/dai-thao-nhat-chan-doan-va-dieu-tri/)
  • Ảnh hưởng của quá trình điều trị ung thư đến dinh dưỡng

    Ảnh hưởng của quá trình điều trị ung thư đến dinh dưỡng
    Cơ thể cần thêm năng lượng và chất dinh dưỡng để lành vết thương, chống nhiễm trùng và phục hồi sau phẫu thuật. Nếu bệnh nhân bị thiếu hoặc suy dinh dưỡng trước khi mổ, quá trình hồi phục có thể gặp trở ngại.
  • Điều trị những triệu chứng do ung thư

    Điều trị những triệu chứng do ung thư
    Khi ung thư hay việc điều trị ung thư gây ra tác dụng phụ ảnh hưởng đến việc ăn uống bình thường, những thay đổi là cần thiết để cung cấp đủ dinh dưỡng cho bệnh nhân. Thuốc có thể được dùng để kích thích khẩu vị.
  • Dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn

    Dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn
    Chăm sóc giảm nhẹ đối với bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn bao gồm liệu pháp dinh dưỡng (xem phần Điều trị triệu chứng) và/hoặc điều trị bằng thuốc
  • Chế độ dinh dưỡng và lối sống của những bệnh nhân ung thư

    Chế độ dinh dưỡng và lối sống của những bệnh nhân ung thư
    Mọi người đều cần có một chế độ ăn uống khoa học và thường xuyên tập thể dục để có sức khỏe tốt và ngăn ngừa bệnh tật. Bệnh nhân ung thư có những nhu cầu sức khỏe đặc biệt, bởi vì họ phải đối mặt với những nguy cơ liên quan đến tác dụng phụ muộn cũng như sự tái phát của căn bệnh này
  • Ứng dụng của doxycycline trong điều trị nhãn khoa

    Ứng dụng của doxycycline trong điều trị nhãn khoa
    Doxycycline là một kháng sinh nhóm cycline, từ lâu được dùng để điều trị bệnh trứng cá đỏ, viêm tiết niệu, viêm dạ dày - ruột, nhiễm Chlamydia...
  • Tự điều trị cao huyết áp

    Tự điều trị cao huyết áp
    Cao huyết áp là một chứng bệnh về tim mạch của người cao tuổi, nhất là hiện nay chế độ ăn uống đầy đủ, số người béo phì xuất hiện nhiều. Bệnh này là một trong những nguyên nhân dẫn đến đột quỵ và để lại nhiều di chứng nặng nề.
  • Điều trị cao huyết áp không dùng thuốc

    Điều trị cao huyết áp không dùng thuốc
    Trong các phương pháp điều trị bệnh cao HA, bên cạnh việc dùng thuốc có những phương pháp mang tính cổ truyền có thể giúp mọi người phòng ngừa và điều trị tốt bệnh này.
  • Hỗ trợ điều trị viêm bàng quang

    Hỗ trợ điều trị viêm bàng quang
    Viêm bàng quang, niệu đạo là một bệnh lý rất thường gặp với các triệu chứng sốt, đau tức bụng dưới, táo bón, đái dắt, đái khó, đái buốt, đái đục hoặc có mủ,…
  • Điều trị ra mồ hôi trộm bằng y học cổ truyền

    Điều trị ra mồ hôi trộm bằng y học cổ truyền
    Đối với YHCT, ra mồ hôi trộm hay còn gọi là chứng Đạo hãn, nguyên nhân phần lớn do âm huyết không đầy đủ hoặc hoạt động công năng của khí bị cản trở. Bài viết cung cấp các thể điển hình của đạo hãn và một số phương pháp chữa trị.
  • Chăm sóc răng miệng trong điều trị ung thư

    Chăm sóc răng miệng trong điều trị ung thư
    Điều trị ung thư ảnh hưởng đến tất cả bộ phận của cơ thể, trong đó có răng miệng.
1 Tiếp » 
Tải ứng dụng Mạng Y Tế trên CH PLAY