sản phẩm dịch vụ giảm giá siêu khủng

Đặc điểm kiểu gen của đa hình MTHFR C677T, MTHFR A1298C, MTR A2756G và MTRR A66G ở phụ nữ sảy thai liên tiếp

Đặc điểm kiểu gen của đa hình MTHFR C677T, MTHFR A1298C, MTR A2756G và MTRR A66G ở phụ nữ sảy thai liên tiếp
  • Mã tin : 1823
  • Ngày đăng : 06/02/2023
  • Gian hàng : mangyte  
  • Khu vực : Hà nội
  • Giá : Liên hệ
  • Số điện thoại : 0433.509409
Bài viết Đặc điểm kiểu gen của đa hình MTHFR C677T, MTHFR A1298C, MTR A2756G và MTRR A66G ở phụ nữ sảy thai liên tiếp được nghiên cứu nhằm đánh giá mối liên quan giữa các kiểu gen của đa hình đơn nucleotide MTHFR C677T, MTHFR A1298C, MTR A2756G và MTRR A66G với sảy thai liên tiếp.

Nội dung Text: Đặc điểm kiểu gen của đa hình MTHFR C677T, MTHFR A1298C, MTR A2756G và MTRR A66G ở phụ nữ sảy thai liên tiếp

DOI: 10.31276/VJST.64(2).01-04 Khoa học Y - Dược Đặc điểm kiểu gen của đa hình MTHFR C677T, MTHFR A1298C, MTR A2756G và MTRR A66G ở phụ nữ sảy thai liên tiếp Trần Ngọc Thảo My1, Triệu Tiến Sang2*, Nguyễn Ngọc Nhất2, Trần Văn Tuấn3 Nguyễn Thanh Tùng2, Nguyễn Minh Phương2, Trịnh Thế Sơn2 Khoa Khoa học và Kỹ thuật, Đại học Sorbonne (Pháp) 1 2 Học viện Quân y 3 Viện Mô phôi Lâm sàng Quân đội, Học viện Quân y Ngày nhận bài 20/9/2021; ngày chuyển phản biện 24/9/2021; ngày nhận phản biện 26/10/2021; ngày chấp nhận đăng 1/11/2021 Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá mối liên quan giữa các kiểu gen của đa hình đơn nucleotide MTHFR C677T, MTHFR A1298C, MTR A2756G và MTRR A66G với sảy thai liên tiếp. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp bệnh - chứng trên nhóm bệnh gồm những phụ nữ có tiền sử sảy thai liên tiếp không rõ nguyên nhân (n=92) và nhóm chứng là những phụ nữ thai sản khỏe mạnh (n=92). Kết quả cho thấy, số alen đột biến, kiểu gen dị hợp tử và đồng hợp tử bệnh của đa hình MTHFR C677T ở nhóm bệnh cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (p

Khoa học Y - Dược Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Genotype characteristic of MTHFR C677T, Đối tượng MTHFR A1298C, MTR A2756G, MTRR A66G 184 phụ nữ trong độ tuổi sinh sản được tuyển chọn vào nghiên polymorphisms in recurrent pregnancy loss cứu trong thời gian từ tháng 5/2019 đến tháng 5/2021 đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ. Ngoc Thao My Tran1, Tien Sang Trieu2*, Ngoc Nhat Nguyen2, Tiêu chuẩn lựa chọn: tuổi 18-35, nhóm bệnh gồm những bệnh Van Tuan Tran3, Thanh Tung Nguyen2, nhân sảy thai liên tiếp từ 2 lần trở lên; nhóm chứng gồm những phụ Minh Phuong Nguyen2, The Son Trinh2 nữ đã có ít nhất 1 con và không có tiền sử sảy thai. 1 Sorbonne University, France Tiêu chuẩn loại trừ: bất thường nhiễm sắc thể, dị dạng tử cung, 2 Vietnam Military Medical University 3 Military Institute of Clinical Embryology and Histology nhiễm trùng, bất thường trên xét nghiệm nội tiết tố, hội chứng kháng phospholipid, bệnh lý thai kỳ (đái tháo đường, tăng huyết Received 20 September 2021; accepted 1 November 2021 áp), nghiện rượu và/hoặc thuốc lá. Abstract: Phương pháp nghiên cứu This research aimed to investigate the correlation Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu bệnh - chứng. between genotype of single nucleotide polymorphisms Mẫu nghiên cứu: chọn mẫu ngẫu nhiên đơn. MTHFR C677T, MTHFR A1298C, MTR A2756G, MTRR A66G and recurrent pregnancy loss (RPL). A case-control Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu: đặc điểm cơ bản của đối study was performed on 92 women suffering from URPL tượng nghiên cứu (tuổi, chiều cao, cân nặng, BMI), tần số các alen and 92 women who had a normal history of pregnancy. đột biến và phân bố kiểu gen của mỗi loại đa hình MTHFR C677T, Regarding MTHFR C677T, the average numbers of MTHFR A1298C, MTR A2756G và MTRR A66G. alleles, heterozygous genotypes, and mutant homozygous Tách chiết ADN: ADN tổng số được tách chiết từ máu genotypes were significantly higher in the group with tĩnh mạch theo quy trình sử dụng bộ kít G-spin™ Total DNA RPL (p

Khoa học Y - Dược kg), chiều cao (1,59±0,04 và 1,60±0,05 m), BMI (20,24±1,39 và tiếp thấp hơn không có ý nghĩa thống kê so với những người mang 21,15±1,43 kg/m²). Nhìn chung, về mặt kết quả nhận thấy, các đặc đột biến đồng hợp tử (OR 0,31, 95% CI, 0,05-1,31, p=0,0732). điểm cơ bản của đối tượng tham gia nghiên cứu đều có giá trị nằm Đối với đa hình MTHFR A1298C, không có sự khác biệt về trong giới hạn bình thường. kiểu gen giữa 2 nhóm (p>0,05). Đồng thời, trong nghiên cứu của Số alen đột biến trung bình trên mỗi bệnh nhân chúng tôi không nhận thấy sự liên quan giữa các kiểu gen của đa hình MTHFR A1298C với sảy thai liên tiếp ở nhóm phụ nữ tham Bảng 1. Số alen đột biến trung bình ở bệnh nhân của mỗi nhóm. gia nghiên cứu. Nhóm bệnh (n=92) Nhóm chứng (n=92) Giá trị p Đa hình gen MTR và MTRR MTHFR C677T 0,64±0,66 0,34±0,54 0,0004 Bảng 3. Phân bố các kiểu gen của đa hình gen MTR và MTRR. MTHFR A1298C 0,61±0,66 0,55±0,64 0,2854 MTR A2756G 0,45±0,59 0,27±0,47 0,0150 Nhóm bệnh Nhóm chứng OR Giá trị p (n=92) (n=92) (95% CI) MTRR A66G 0,66±0,72 0,57±0,44 0,1918 MTR A2756G Kết quả bảng 1 cho thấy, bệnh nhân sảy thai liên tiếp trung 56 (60,87%) 68 (73,91%) 1 AA bình mang nhiều alen đột biến của đa hình MTHFR C677T hơn 23 (25,00%) 1,64 (0,82-3,29) 0,1329 AG 31 (33,70%) có ý nghĩa thống kê so với những phụ nữ không có tiền sử sảy thai GG 5 (5,43%) 1 (1,09%) 6,07 (0,64-291,2) 0,0673 trong nhóm chứng (0,64±0,66 và 0,34±0,54, p=0,0004). Tương GG + AG 36 (39,13%) 24 (26,09%) 1,82 (0,93-3,58) 0,0591 tự, bệnh nhân nhóm bệnh trung bình mang 0,45±0,59 alen G AG + AA 91 (98,91%) 0,19 (0,00-1,77) 0,0969 đột biến của đa hình MTR A2756G, nhiều hơn có ý nghĩa thống 87 (94,57%) kê so với nhóm chứng là 0,27±0,47 (p=0,015). Ngược lại, MTRR A66G không có sự khác biệt về số alen đột biến của đa hình MTHFR AA 45 (48,91%) 49 (53,26%) 1 A1298C và MTRR A66G trung bình trên mỗi bệnh nhân thuộc AG 34 (36,96%) 36 (39,13%) 1,03 (0,53-2,00) 0,9249 nhóm sảy thai liên tiếp với nhóm đối chứng (p>0,05). GG 13 (14,13%) 7 (7,61%) 2,02 (0,67-6,51) 0,1641 GG + AG 43 (46,74%) 1,19 (0,64-2,21) 0,5553 Đa hình gen MTHFR 47 (51,09%) AG + AA 79 (85,87%) 85 (92,39%) 0,50 (0,16-1,44) 0,1553 Bảng 2. Phân bố các kiểu gen của đa hình gen MTHFR. Kết quả bảng 3 cho thấy phân bố các kiểu gen của đa hình Nhóm bệnh Nhóm chứng OR Giá trị p MTR và MTRR. Nhìn chung kiểu gen đồng hợp bình thường (n=92) (n=92) (95% CI) MTHFR C677T vẫn chiếm đa số, không có sự khác biệt về kiểu gen tương ứng CC 42 (45,65%) 64 (69,57%) 1 giữa nhóm sảy thai liên tiếp và phụ nữ không có tiền sử sảy thai CT 41 (44,57%) 25 (27,17%) 2,50 (1,27-4,94) 0,0041 (p>0,05). Đồng thời, trong nghiên cứu của chúng tôi không nhận TT 9 (9,78%) 3 (3,26%) 4,57 (1,05-27,41) 0,0190 thấy sự liên quan giữa các kiểu gen của đa hình MTR A2756G và TT + CT 50 (54,35%) 28 (30,43%) 2,72 (1,42-5,22) 0,0010 MTRR A66G với sảy thai liên tiếp. CT + CC 83 (90,22%) 89 (96,74%) 0,31 (0,05-1,31) 0,0732 Bàn luận MTHFR A1298C AA 45 (48,91%) 48 (52,17%) 1 Theo Hiệp hội Y học sinh sản Hoa Kỳ và Bộ Y tế Việt Nam, AC 38 (41,30%) 37 (40,22%) 1,09 (0,57-2,11) 0,7689 sảy thai được định nghĩa là hiện tượng thai chết tự nhiên và bị CC 9 (9,78%) 7 (7,61%) 1,37 (0,41-4,71) 0,5612 tống ra khỏi buồng tử cung trước khi có thể sống được, tính từ CC + AC 47 (51,09%) 44 (47,83%) 1,14 (0,61-2,12) 0,6582 khi thụ thai cho đến 22 tuần tuổi [1, 3]. Định nghĩa này bao gồm AC + AA 83 (90,22%) 85 (92,39%) 0,76 (0,23-2,42) 0,6008 cả những trường hợp mất thai sau khi thụ thai tự nhiên và điều trị hỗ Kết quả bảng 2 cho thấy, đa hình MTHFR C677T có 3 kiểu gen trợ sinh sản (ngoại trừ thai ngoài tử cung và sự thất bại làm tổ trong theo thứ tự từ phổ biến đến ít phổ biến là đồng hợp bình thường chuyển phôi). Sảy thai liên tiếp được định nghĩa là tình trạng mất (677CC), dị hợp tử đột biến (677CT) và đồng hợp tử đột biến từ ​​hai thai liên tiếp trở lên, một số nghiên cứu cho rằng, sau 2-3 (677TT). Kiểu gen dị hợp ở nhóm bệnh nhiều hơn có ý nghĩa thống lần sảy thai, hiện tượng này có nguy cơ lặp lại ở lần mang thai kê so với nhóm chứng, đồng thời nhận thấy người mang gen dị hợp tiếp theo với tỷ lệ lên đến 33%. Rất khó ước tính chính xác tỷ lệ có nguy cơ sảy thai liên tiếp cao hơn 2,5 lần so với bình thường hiện mắc sảy thai liên tiếp nhưng hầu hết các nghiên cứu báo cáo (OR 2,5, 95% CI, 1,27-4,94, p=0,0041); tương tự kiểu gen đồng rằng, tình trạng này ảnh hưởng đến 1-5% phụ nữ. Những bệnh hợp đột biến làm tăng nguy cơ sảy thai liên tiếp 4,57 lần (OR 4,57, nhân sảy thai liên tiếp đã trải qua chấn thương tâm lý và có nguy 95% CI, 1,05-27,41, p=0,019). Những người mang alen đột biến cơ mắc phải một loạt các rối loạn tâm lý và tâm thần như lo âu, (TT + CT) ở nhóm bệnh cao hơn có ý nghĩa thống kê và làm nguy trầm cảm, rối loạn căng thẳng sau chấn thương và rối loạn ám cơ sảy thai liên tiếp tăng 2,72 lần so với đồng hợp bình thường (OR ảnh cưỡng chế [6]. Hơn 2 thập kỷ trở lại đây, yếu tố đông máu 2,72, 95% CI, 1,42-5,22, p=0,001). Cũng nhận thấy, những phụ nữ di truyền được cho là nguy cơ của huyết khối mạch máu, đồng có ít nhất 1 alen bình thường (CT + CC) có nguy cơ sảy thai liên thời chúng có thể cũng liên quan tới 40-50% bệnh nhân sảy thai 64(2) 2.2022 3

Khoa học Y - Dược liên tiếp [7]. Trong đó, đa hình đơn nucleotide xảy ra trên các Kết luận gen mã hóa enzyme chuyển hóa homocysteine nhận được nhiều Đa hình MTHFR C677T là yếu tố nguy cơ gây sảy thai liên sự quan tâm. tiếp chưa rõ nguyên nhân ở những phụ nữ tham gia nghiên MTHFR là một trong những enzyme chính trong quá cứu. Đối với những đa hình MTHFR A1298C, MTR A2756G trình chuyển hóa axit folic xúc tác phản ứng một chiều 5, 10- và MTRR A66G, nhóm nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan methylenetetrahydrofolate thành 5-methylenetetrahydrofolate giữa những đa hình này với sảy thai liên tiếp trong số những cung cấp cơ chất cho phản ứng chuyển homocysteine thành đối tượng tham gia, vì vậy, cần phải mở rộng quy mô nghiên methionine. Sự thay đổi C thành T ở nucleotide 677 và A thành cứu để tiếp tục đánh giá nguy cơ gây bệnh. C ở nucleotide 1298 trong gen MTHFR dẫn đến sự thay đổi trình tự axit amin, lần lượt từ alanin thành valin và glutamin thành TÀI LIỆU THAM KHẢO alanin. Protein đột biến đã làm giảm hoạt động của enzyme dẫn [1] Practice Committee of the American Society for Reproductive Medicine đến hiện tượng giảm methyl hóa DNA và có thể gây ra sự bất ổn (2013), “Definitions of infertility and recurrent pregnancy loss: a committee opinion”, Fertility and Sterility, 99(1), DOI: 10.1016/j.fertnstert.2012.09.023. định của hệ gen [8]. Hiện tại, mặc dù nhiều nghiên cứu đã đánh giá mối liên quan giữa đa hình gen MTHFR C677T, A1298C và [2] Dimitriadis, et al. (2020), “Recurrent pregnancy loss”, Nature Reviews Disease Primers, 6(1), pp.1-19. sảy thai liên tiếp, nhưng kết quả vẫn còn gây nhiều tranh luận. Tỷ lệ mang kiểu gen đồng hợp tử thay đổi giữa các khu vực trên [3] Bộ Y tế (2015), Quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/1/2015 về việc Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa. thế giới như Tây Ban Nha 25%, người da trắng Bắc Mỹ 10-15%, người Mỹ gốc Phi 6%, trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ này [4] William Martin Hague (2003), “Homocysteine and pregnancy”, Best Practice & Research Clinical Obstetrics & Gynaecology, 17(3), pp.459-469. trong nhóm bệnh và chứng lần lượt là 9 và 3%. Nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy, đa hình gen MTHFR C677T là nguy cơ của [5] Wen-Xing Li, et al. (2017), “Folate deficiency and gene polymorphisms of MTHFR, MTR and MTRR elevate the hyperhomocysteinemia risk”, Clin. Lab., bệnh sảy thai liên tiếp ở phụ nữ Việt Nam, trong đó người mang 63(3), pp.523-533. gen dị hợp 677CT có nguy cơ sảy thai liên tiếp cao hơn 2,5 lần so [6] Ruth Bender Atik, et al. (2018), “ESHRE guideline: recurrent pregnancy với bình thường (OR 2,5, 95% CI, 1,27-4,94, p=0,0041) và kiểu loss”, Human Reproduction Open, 2018(2), DOI: 10.1093/hropen/hoy004. gen đồng hợp bệnh 677TT làm tăng nguy cơ sảy thai liên tiếp [7] Hossein Neamatzadeh, et al. (2016), “Serum immune reactivity against β2- 4,57 lần (OR 4,57, 95% CI, 1,05-27,41, p=0,0190). Kết quả này glycoprotein-I and anti-neutrophil cytoplasmic auto-antibodies by ELI-P-complex phù hợp với các phân tích tổng hợp của Aiguo Ren và Juan Wang screening technology in recurrent miscarriage”, Minerva Ginecol., 68(3), pp.243- (2006) [9] đã chỉ ra rằng, MTHFR C677T là yếu tố nguy cơ di 249. truyền đối với sảy thai liên tiếp không rõ nguyên nhân ở một [8] Asghar Ebadifar, et al. (2015), “Maternal supplementary folate intake, nhóm phụ nữ Trung Quốc. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Xu methylenetetrahydrofolate reductase (MTHFR) C677T and A1298C polymorphisms and the risk of orofacial cleft in Iranian children”, Avicenna Journal of Medical Yajuan và cs (2019) [10], nguy cơ sảy thai liên tiếp ở phụ nữ có Biotechnology, 7(2), pp.80-84. kiểu gen TT, CT, hoặc TT+CT không khác biệt có ý nghĩa thống [9] Aiguo Ren, Juan Wang (2006), “Methylenetetrahydrofolate reductase kê so với nhóm chứng. Điều này có thể là do kích thước mẫu C677T polymorphism and the risk of unexplained recurrent pregnancy loss: a meta- không đủ hoặc các yếu tố khác như lượng axit folic trong thai kỳ. analysis”, Fertility and Sterility, 86(6), pp.1716-1722. Mặc dù nhiều nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng, alen MTHFR [10] Xu Yajuan, et al. (2019), “Relationship between unexplained recurrent A1298C là một yếu tố nguy cơ đối với sảy thai liên tiếp [11-13], pregnancy loss and 5, 10-methylenetetrahydrofolate reductase) polymorphisms”, Fertility and Sterility, 111(3), pp.597-603. nghiên cứu của chúng tôi không nhận thấy sự liên quan giữa các kiểu gen của đa hình MTHFR A1298C với sảy thai liên tiếp ở [11] R. Nair Rohini, et al. (2013), “Association of maternal and fetal MTHFR A1298C polymorphism with the risk of pregnancy loss: a study of an Indian những phụ nữ tham gia nghiên cứu, kết quả này tương đồng với population and a meta-analysis”, Fertility and Sterility, 99(5), pp.1311-1318. nghiên cứu của Maria Hohlagschwandtner và cs (2003) [14] và [12] Klai Sarra, et al. (2011), “Association of MTHFR A1298C polymorphism Li Luo và cs (2015) [15]. Theo Yi Yang và cs (2016) [16], đa (but not of MTHFR C677T) with elevated homocysteine levels and placental hình gen MTHFR A1298C có liên quan đến sảy thai liên tiếp vasculopathies”, Blood Coagulation & Fibrinolysis, 22(5), pp.374-378. ở người da trắng nói chung nhưng không liên quan đến người [13] N. Mtiraoui, et al. (2006), “Methylenetetrahydrofolate reductase C677T châu Á. Do đó, cần có các nghiên cứu chuyên sâu hơn về mối and A1298C polymorphism and changes in homocysteine concentrations in women liên quan giữa MTHFR A1298C và sảy thai liên tiếp, đặc biệt with idiopathic recurrent pregnancy losses”, Reproduction, 131(2), pp.395-401. trên các đối tượng có nguồn gốc di truyền khác nhau. Trên thế [14] Maria Hohlagschwandtner, et al. (2003), “Combined thrombophilic giới nói chung, Việt Nam nói riêng còn ít nghiên cứu đánh giá polymorphisms in women with idiopathic recurrent miscarriage”, Fertility and Sterility, 79(5), pp.1141-1148. mối liên quan giữa đa hình MTR A2756G và MTRR A66G đối với sảy thai liên tiếp, kết quả phân tích trên 184 bệnh nhân cho thấy, [15] Li Luo, et al. (2015), “Polymorphisms of genes involved in the folate metabolic pathway impact the occurrence of unexplained recurrent pregnancy loss”, các kiểu gen đồng hợp đột biến, dị hợp đột biến của 2 đa hình này Reproductive Sciences, 22(7), pp.845-851. đều không phải là nguy cơ gây sảy thai liên tiếp chưa rõ nguyên [16] Yi Yang, et al. (2016), “Association between maternal, fetal and paternal nhân. Đây là cơ sở góp phần củng cố thêm bằng chứng về mối MTHFR gene C677T and A1298C polymorphisms and risk of recurrent pregnancy liên quan của các đa hình gen trên đối với sảy thai liên tiếp chưa rõ loss: a comprehensive evaluation”, Archives of Gynecology and Obstetrics, 293(6), nguyên nhân. pp.1197-1211. 64(2) 2.2022 4

Mạng Y Tế
Nguồn: https://tailieu.vn/doc/dac-diem-kieu-gen-cua-da-hinh-mthfr-c677t-mthfr-a1298c-mtr-a2756g-va-mtrr-a66g-o-phu-nu-say-thai-l-2555078.html
Tải ứng dụng Mạng Y Tế trên CH PLAY