Mạng y tế, vì sức khỏe cộng đồng

Rối loạn sắc tố da: chẩn đoán và điều trị

Trước hết cần xác định thế nào là tăng sắc tố và giảm sắc tố. Mỗi loại có thể là tiên phát hay thứ phát sau một bệnh khác.
Mục lục

Melanin được tạo ra trong tế bào sắc tố ở lớp đáy của thượng bì. Tiền chất của nó, acid tyrosin amin từ từ được biến đổi thành dihydroxyphenylalanin (DOPA) bỏi tyrosinase, và có nhiều bước hóa học tiếp theo để tạo thành chất cuối cùng là melanin. Hệ thống này có thể bị ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như tiếp xúc với nóng, chấn thương, tia nắng hay các chất ion phóng xạ, các kim loại nặng và sự thay đổi của thành phần oxy. Những ảnh hưởng này có thể gây tăng sắc tố, giảm sắc tố, hoặc cả hai. Chấn thương tại chỗ có thể làm phá vỡ tế bào sắc tố một cách tạm thời hoặc vĩnh viễn, gây giảm sắc tố, đôi khi được bao quanh bằng vòng tăng sắc tố, như trong eczema và viêm da. Tăng sắc tố thường kèm theo tăng hoạt động miễn dịch huyết tương β MSH (hormon kích thích tế bào sắc tố từ tuyến yên) trong bệnh Addison. Melatonin là hormon tuyến tùng, nó điều hòa sự phân tán và tập trung của sắc tố.

Những rối loạn sắc tố khác gây ra do tiếp xúc với các chất sắc tố từ bên ngoài như caroten huyết, argyria, lắng đọng của các chất kim loại (như vàng khi điều trị viêm đa khớp dạng thấp), và xăm da. Các rối loạn sắc tố nội sinh khác tham gia vào những chất chuyển hóa của bệnh nhiễm sắc tố sắc mô, hay acid nguồn gốc từ máu trong bệnh mô xám nâu, sắc tố mật và caroten.

Phân loại

Trước hết cần xác định thế nào là tăng sắc tố và giảm sắc tố. Mỗi loại có thể là tiên phát hay thứ phát sau một bệnh khác.

Rối loạn sắc tố tiên phát

Tăng sắc tố: Rối loạn loại này là dạng nevi bẩm sinh hay mắc phải, bao gồm nevi sắc tố, đốm chàm Mông cổ, tăng sắc tố không kiểm soát, tàn nhang người trẻ và tàn nhang người già. Tăng sắc tố cũng có thể xẩy ra trong viêm tế bào sắc tố do senic hoặc trong bệnh Addison (do thiếu yếu tố ức chế của hydrocortison làm cho tuyến yên tạo ra MSH). Tàn nham ở nách và nốt đốm màu cà phê sữa có thể thấy trong bệnh u xơ thần kinh.

Mất sắc tố hay giảm sắc tố: Những rối loạn trong loại này là bạch biến, bạch tạng và đổi màu tóc ở trán. Trong bạch biến tế bào sắc tố bị tổn thương lượng lớn sắc tố bị mất, tế bào sắc tố giảm. Bạch biến chiếm 1% dân số, có thể kết hợp với cường tuyến giáp hay thiểu năng tuyến giáp, thiếu máu ác tính, đái tháo đường, bệnh Addison và ung thư dạ dầy. Bệnh bạch tạng tương ứng với số chuỗi gen di truyền đã được xác định với các phenotype khác nhau. Đó có thể là di truyền nhiễm sắc thể trội hay di truyền nhiễm sắc thể lặn và thường có ảnh hưởng tới mắt và thị lực. Đổi màu tóc ở trán biểu hiện bằng sự giảm sắc tố khu trú ở chùm tóc phía trán, là bệnh di truyền nhiễm sắc thể trội mà ở một vài trường có kết hợp với bất thường về thần kinh. Những mảng mất sắc tố có thể gặp trong bệnh xơ củ. Vòng mất sắc tố quanh nevi và hiếm gặp quanh u sắc tố. Mất sắc tố quanh nevi và quanh u sắc tố có thể là sự biểu hiện của đáp ứng miễn dịch.

Rối loạn sắc tố thứ phát

Bất kể một chấn thương nào đối với da (kích thích, dị ứng, nhiễm khuẩn, vết xước, bỏng, hay liệu pháp điều trị trong da liễu như nạo, mài da, lột da bằng hóa chất, làm lậnh bằng nitơ lỏng) đều cố thể gây tăng hay giảm sắc tố. Một vài rối loạn lâm sang quan trọng sẽ mô tả sau đây:

Tăng sắc tố: Loại tăng sắc tố thứ phát sau một bệnh da khác như bệnh trứng cá là loại hay gặp nhất ở người có nước da đen. Loại này được gọi là tăng sắc tố sau viêm. Sạm da là loại tăng sắc tố khu trú ở mặt. Tăng sắc tố khu trú của bệnh rám da có thể là do tác dụng trực tiếp của hormon steroid, estrogen, và progesteron thiên hướng tác động lên dòng tế bàp sắc tố. Nó không chỉ xảy ra trong thời kỳ mang thai mà còn xảy ra ở 30 - 50% phụ nữ dùng thuốc tránh thai.

Tăng sắc tố Berloque là một bệnh tăng sắc tố sau nhiễm độc ánh sáng do một loại dầu thiết yếu có trong nước hoa. Cũng giống như tăng sắc tố thấy trong phản ứng nhiễm độc ánh sáng do các loại hóa chất có trong vỏ cây chanh và các cam quýt và cây cần tây, tăng sắc tố cũng có thể được gây ra do một số loại thuốc như chloroquin, chlopromazin, minocyclin và amiodaron. Sự kích thích của benzoyl peroxid và tretinoin có thể gây tăng sắc tố cũng như khi bôi fluorouracil. Các thuốc có thể gây hồng ban cố định nhiễm sắc là phenolphthalein trong thuốc nhuận tràng, barbiturat, và tetracyclin.

Giảm sắc tố - bạch biến có thể là biến chứng viêm da dị ứng, liken phẳng, vảy nến, rụng tóc, luput ban đỏ dạng đĩa, viêm da thần kinh và những bệnh toàn thân khác như phù niêm, nhiễm độc tuyến giáp và giang mai. Nó cũng có thể do các loại sang chấn tại chỗ hoặc do tiếp xúc với vàng hay arsen. Chất chống oxy hóa ở trong các đồ dùng cao su, như monobenzyl, hidroquinon gây trắng da do dùng băng kiểu găng, đệm cao su ở các quán bia. Điều này xảy ra nhiều nhất ở người da đen. Các bác sĩ cần thực hành đặc biệt cẩn thận khi dùng ni tơ lỏng cho người da đen, vì ni tơ lỏng rất dễ gây giảm sắc tố hay mất sắc tố, có khi mất vĩnh viễn. Khi tiêm vào thương tổn hay tiêm vào khớp corticosteroid nồng độ cao cũng có thể gây giảm sắc tố tạm thời.

Chẩn đoán phân biệt

Cần phân biệt mất sắc tố thực sự với mất sắc tố giảm, ví dụ như lang ben, bệnh vảy phấn thông thường, và viêm da tiết bã nhờn. Có thể khó phân biệt bệnh bạch biến với da trắng và thậm chí với bệnh bạch tạng từng phần, nhưng vị trí khu trú thường giúp chúng ta phân biệt. Có thể dùng đèn Wood để đánh giá rối loạn sắc tố ở người cáp-ca-zơ, đèn sẽ làm nổi bật sắc tố ở thượng bì và giảm sắc tố.

Biến chứng

Dày sừng ánh nắng và u thượng bì hay xảy ra trên bệnh nhân bạch biến và bạch tạng. Bạch biến có xu hướng gây ngứa ở vùng kẽ. Có thể có sang chấn tinh thần ở bệnh nhân bạch biến nặng và những thể khác như tăng hay giảm sắc tố, đặc biệt khi chúng xuất hiện ở người cổ da đen tự nhiên.

Điều trị và tiên lượng

Tăng sắc tố

Sản phẩm tẩy trắng da nói chung có chứa hydroquinon. Hydroquinon đôi khi gây giảm sắc tố, tăng sắc tố không mong muốn, hoặc thậm chí gây loạn sắc tố thứ phát và kê sắc tố, và nên hạn chế dùng như vậy. Sạm da, tàng nhang, và tăng sắc tố sau viêm có thể điều trị bằng hyđroquinon 3 - 4% dạng kem, gôm hay dạng dung dịch cùng với kem chống nắng có SPF = 15 có thể mang lại kết quả khác nhau. Tretinoin kem 0,025 - 0,05% có thể dùng thêm. Sạm da thượng bì đáp ứng tốt, nhưng nếu lắng đọng của sắc tố chủ yếu ở trung bì thì tiên lượng kém hơn. Bệnh sẽ đáp ứng với điều trị sau 1 tháng và sẽ không tái phát nếu như tránh không tiếp xúc với ánh nấng. Tăng sắc tố thường tái phát sau điều trị nếu như vẫn tiếp xúc với ánh nắng và không dùng kem chống nắng. Nốt ruồi son do ánh nắng kháng lại tác dụng của thuốc bôi nhưng đáp ứng với áp ni tơ lỏng hay laser đèn xanh tân tiến. Ngày nay những nghiên cứu kiểm soát bệnh cho thấy tretinoin 0,1% dạng kem dùng trong 10 tháng, sẽ làm biến mất nốt ruồi son do ánh nắng, dát sắc tố ở mặt của người châu Á và tăng sắc tố sau viêm ở người da đen.

Giảm sắc tố

Sự mất sắc tố tương đối cố định ở các thể của bạch tạng, tự xuất hiện lại sắc tố ở bệnh nhân bạch biến rất hiếm xảy ra, mất sắc tố thứ phát thì sắc tố tự trở lại có thể xảy ra. Điều trị bệnh bạch biến lâu và thiếu hấp dẫn. Trang điểm bằng Covermark và Dermablend có tác dụng để che dấu dát biến dạng.

Bệnh nhân phải có động cơ rõ, nếu thương tổn ít hơn 20% diện tích da (hầu hết các trường hợp) dùng methoxsalen 0,1% trong cồn ethanol và propyleri glycol hoặc trong acid Mantle dạng kem hay chất nền bôi, cần chú ý là chỉ tiếp xúc với tia cực tím có bước sóng dài (UVA), sau khi đã rửa cẩn thận và bôi kem chống nắng có SPF = 15. Nếu thương tổn > 20 - 25% diện tích da, dùng methoxsalen, 0,6 mg/kg uống 2 giờ trước khi chiếu UVA là tốt nhất. Khi điều trị PUVA có thể xảy ra nhiễm độc do ánh nắng (bỏng nắng). Kỹ thuật mới dùng tự ghép thượng bì kết hợp nuôi cấy thượng bì với điều trị PUVA cho chúng ta hy vọng phẫu thuật bạch biến đúng mà nguy cơ để lại sẹo rất thấp. Corticosteroiđ loại mạnh dạng bôi được chủ trương dùng cho bệnh bạch biến, bôi hàng ngày trong 10 ngày rồi nghỉ 10 ngày, rồi lại bôi tiếp. Tuy nhiên chiến thuật này ít thành công, và khi bôi ở vùng mặt có thể gây cho da mặt mỏng và có những thay đổi khác.

Nguồn: Internet.
Nguồn: Điều trị
1  ... Tiếp » 

Một số dạng nấm gây nhiễm trùng cơ hội

Một số dạng nấm gây nhiễm trùng cơ hội
Trong các tổ chức của bệnh nhân bị bệnh nấm sợi đen, nấm có mầu đen hoặc mầu nâu nhạt, tế bào nấm đen hoặc cả hai

U nấm: Mycetoma, Maduromycosis và Actinomycetoma

U nấm: Mycetoma, Maduromycosis và Actinomycetoma
Tất cả các thuốc khác có thể nên dùng trong nhiều tháng và tiếp tục dùng trong vài tháng sau khi triệu chứng lâm sàng được cải thiện để dự phòng tái phát. Phẫu thuật mở rộng giúp cho sự liền sẹo.

Nhiễm nấm da kéo dài: chẩn đoán và điều trị

Bệnh nấm Sporotrichum: chẩn đoán và điều trị

Các nhiễm trùng do Penicillium marneffei: chẩn đoán và điều trị

Bệnh nấm Blastomyces vùng nam mỹ: paracocci Dioimomycosis

Bệnh ấu trùng di trú nội tạng: bệnh giun toxocara

Bệnh ấu trùng di trú nội tạng: bệnh giun toxocara
Phương pháp phòng bệnh ở người tốt nhất là điều trị định kỳ chó con, mèo con, chó và mèo mẹ đang trong thời kỳ cho con bú, bắt đầu từ 2 tuần sau khi đẻ

Bệnh giun tóc: bệnh giun roi ngựa

Bệnh giun tóc: bệnh giun roi ngựa
Bệnh nhân nhiễm giun nhẹ không triệu chứng không cần phải điều trị. Trường hợp nhiễm giun nặng hơn hoặc có triệu chứng, điều trị mebendazol, albendazol hoặc oxantel.

Bệnh giun xoắn: chẩn đoán và điều trị

Bệnh giun chỉ Onchocera: chẩn đoán và điều trị

Bệnh giun chỉ Loa loa: chẩn đoán và điều trị

Bệnh giun móc: chẩn đoán và điều trị

Bệnh Lyme: nhiễm Borrelia Lyme

Bệnh Lyme: nhiễm Borrelia Lyme
Căn bệnh này, được đặt tên theo thị trấn old Lyme, Connecticut, do xoắn khuẩn Borrelia burgdoíeri gây nên, lây truyền cho người qua ve bọ ixodid, một bộ phận của phức hệ Ixodes ricinus.

Bệnh do Leptospira: chẩn đoán và điều trị

Bệnh do Leptospira: chẩn đoán và điều trị
Nước tiểu có thể có sắc tố mật, protein, cặn và hồng cầu. Đái ít không phải là ít gặp và trong các trường hợp nặng tăng urê máu có thể xuất hiện

Sốt do chuột cắn: xuắn khuẩn, bệnh Sodocu

Sốt hồi quy: chẩn đoán và điều trị

Bệnh xoắn khuẩn không lây qua đường tình dục: chẩn đoán và điều trị

Các giai đoạn lâm sàng của Giang mai: chẩn đoán và điều trị

Những điều cần chú ý trong chăm sóc nguời già

Những điều cần chú ý trong chăm sóc nguời già
Những công trình nghiên cứu gần đây chứng minh sự cần thiết điều trị ngoại trú người tăng huyết áp tâm thu và tâm trương cũng như chỉ có tăng huyết áp tâm thu đơn thuần.

Phản ứng thuốc, bệnh do thuốc gây nên ở người cao tuổi

Phản ứng thuốc, bệnh do thuốc gây nên ở người cao tuổi
Chỉ sử dụng thuốc khi các biện phấp điều trị không dùng thuốc không có kết quả hoặc không đủ hiệu lực hoặc không thể thực hiện được

Tiểu tiện không tự chủ ở người cao tuổi

Trạng thái mất ổn định ở người cao tuổi: mất ổn định thể lực, ngã, đi chệnh choạng

Tình trạng bất động ở bệnh nhân cao tuổi

Giảm sút trí tuệ ở người cao tuổi

Chế độ ăn thay đổi độ đặc của thức ăn trị liệu

Chế độ ăn thay đổi độ đặc của thức ăn trị liệu
Chế độ ăn lỏng cung cấp đầy đủ nước và có thể được lập ra để cung cấp đầy đủ năng lượng và protein. Các vitamin, chất khoáng, đặc biệt là acid folic, sắt và vitamin B6

Ăn vô độ tâm thần: chẩn đoán và điều trị

Ăn vô độ tâm thần: chẩn đoán và điều trị
Một số bệnh nhân bị chứng ăn vô độ cũng có dạng chán ần tâm thần ẩn với sụt cân rõ rệt và vô kinh. Khía cạnh gia đình và tâm lý nhìn chung tương tự như đối với những bệnh nhân chán ăn tâm thần.

Chán ăn tâm thần: chẩn đoán và điều trị

Béo phì: chẩn đoán và điều trị

Hạ đường huyết do Pentamidin: chẩn đoán và điều trị

Hạ đường huyết do Pentamidin: chẩn đoán và điều trị
Tiếp theo liệu trình điều trị đầy đủ bằng pentamidin, cần theo dõi glucose máu lúc đói hay glycohemoglobin sau đó để đánh giá phạm vi phục hồi tế bào β tụy hoặc di chứng tổn thương.

Hạ đường huyết do bệnh lý miễn dịch: chẩn đoán và điều trị

Hạ đường huyết do bệnh lý miễn dịch: chẩn đoán và điều trị
Muộn hơn sau khi phần lớn thức ăn được hấp thu, nồng độ insulin cao một cách không thích hợp phân ly khỏi phần kháng thể gắn vào nó, gây ra hạ đường huyết.

Hạ đường huyết giả tạo

Hạ đường huyết liên quan với rượu: lúc đói sau uống rượu

Hạ đường huyết sau bữa ăn: phản ứng

Hạ đường huyết do u ngoài tụy: chẩn đoán và điều trị

Rối loạn tâm thần tình dục (chẩn đoán và điều trị)

Rối loạn tâm thần tình dục (chẩn đoán và điều trị)
Đặc điểm chính của kích thích tình dục là chúng thường có nguồn gốc tâm lý ban đầu. Sự nghèo nàn về kinh nghiệm quan hệ tình dục khác giới sẽ càng củng cố đặc điểm này theo thời gian.

Những vấn đề tâm thần liên quan đến nằm viện và các rối loạn do dùng thuốc, phẫu thuật

Những vấn đề tâm thần liên quan đến nằm viện và các rối loạn do dùng thuốc, phẫu thuật
Những vấn đề về hành vi, thường liên quan đến phủ định bệnh. Trong những trường hợp cực đoan, những vấn đề này có thể thúc đẩy bệnh nhân trốn viện, làm ngược lại chỉ dẫn về y tế.

Các rối loạn tâm thần ở người cao tuổi: chẩn đoán và điều trị

Mê sảng, sa sút trí tuệ và các rối loạn nhận thức: hội chứng não thực thể

Phụ thuộc các chất hỗn hợp và dung môi: chẩn đoán và điều trị

Phụ thuộc Caffein: chẩn đoán và điều trị nghiện cà phê

Hội chứng liệt chu kỳ: periodic paralysis syndrome

Hội chứng liệt chu kỳ: periodic paralysis syndrome
Ở thanh niên Châu Á, hội chứng này thường đi kèm hội chứng cường giáp, điều trị là cần điều chỉnh nội tiết trước và phòng cơn tái phát sau đó.

Các rối loạn bệnh lý cơ: chẩn đoán và điều trị

Các rối loạn bệnh lý cơ: chẩn đoán và điều trị
Các bệnh cơ ty lạp thể là một nhóm các rối loạn có biểu hiện lâm sàng đa dạng. Xét nghiệm mô bệnh học với phương pháp nhuộm Gomori cải tiến cho hình ảnh tổn thương đặc trưng

Các rối loạn liên quan đến sử dụng kháng sinh Aminoglycosid

Bệnh ngộ độc thịt: ngộ độc clostridium botulinum

Hội chứng nhược cơ: hội chứng Lambert Eaton

Bệnh nhược cơ nặng: chẩn đoán và điều trị

Khối u tinh hoàn: chẩn đoán và điều trị

Khối u tinh hoàn: chẩn đoán và điều trị
Trong khi nguyên nhân của ung thư tinh hoàn còn chưa rõ, cả yếu tố bẩm sinh và mắc phải cũng đi kèm với sự phát triển khối u

Khối u ở thận: chẩn đoán và điều trị

Khối u ở thận: chẩn đoán và điều trị
Những khối u thận thường được phát hiện đầu tiên bằng chụp hệ tiết niệu cản quang qua đường tĩnh mạch. Muốn đánh giá sâu hơn thì cần siêu âm để xác định xem u dạng rắn hay u dạng nang.

Ung thư niệu quản và bể thận: chẩn đoán và điều trị

Ung thư bàng quang: chẩn đoán và điều trị

Ung thư tuyến tiền liệt: chẩn đoán và điều trị

Tăng sản tuyến tiền liệt lành tính: chẩn đoán và điều trị

Các bệnh đa hệ thống có tổn thương thận

Các bệnh đa hệ thống có tổn thương thận
Cần điều trị bệnh nhân bị đa u tủy xương có protein Bence Jones niệu bằng melphalan và prednison. Tránh làm tăng calci máu và uống nhiều nước

Bệnh nang thận: chẩn đoán và điều trị

Bệnh nang thận: chẩn đoán và điều trị
Đau bụng và mạng sườn là do nhiễm khuẩn, chảy máu trong nang hoặc do sỏi thận. Điều trị thông thường bằng các thuốc giảm đau và nghỉ ngơi tại giường

Bệnh ống thận mô kẽ mạn tính: chẩn đoán và điều trị

Các bệnh ống thận - tổ chức kẽ

Bệnh thận thể hiện cả hội chứng thận hư và thận viêm

Bệnh thận hư do các bệnh hệ thống: chẩn đoán và điều trị