MangYTe

Bạn nên biết hôm nay

8 xét nghiệm vô sinh cần làm ở phụ nữ

Vô sinh là sự bất lực thụ thai, đối với các cặp vợ chồng sống với nhau hơn một năm, nếu quan hệ tình dục không dùng phương pháp tránh thai.
Mục lục

Dưới đây là một số xét nghiệm cần làm, khi nghi ngờ vô sinh, để có biện pháp can thiệp kịp thời.

Khi nào phụ nữ nên đi kiểm tra vô sinh?

Theo khuyến cáo của các chuyên gia, Trung tâm Thí nghiệm Disha, Mumbai, Ấn Độ (DPM), thì trước khi kiểm tra vô sinh, phụ nữ nên có kiến thức và nhận thức đầy đủ, về khả năng sinh sản của bản thân, để tìm ra thời điểm thụ thai tốt nhất. Một số cặp vợ chồng thú nhận, họ khó có con vì bỏ qua nhiều cơ hội thụ thai, dựa trên chu kỳ rụng trứng. Phụ nữ dễ thụ thai nhất vào thời điểm trước 1 hoặc 2 ngày rụng trứng. Phụ nữ muốn mang thai, nên ghi lại cụ thể chu kỳ kinh nguyệt, để tính toán chính xác ngày rụng trứng. Hồ sơ này giúp bác sĩ quyết định xem, người trong cuộc có nên làm xét nghiệm vô sinh hay không. Một khi đã tính toán chu kỳ rụng trứng chính xác, vẫn không hiệu quả, thì nên làm 8 xét nghiệm vô sinh dưới đây.

1. Xét nghiệm máu toàn bộ (CBC).

Xét nghiệm máu toàn bộ (CBC), hay xét nghiệm số lượng máu đầy đủ, là xét nghiệm được sử dụng để đánh giá sức khỏe tổng thể, nhiễm trùng, thiếu máu và bệnh bạch cầu. Cụ thể, xét nghiệm để biết các tế bào máu đỏ mang ôxy, các tế bào máu trắng kháng viêm, hemoglobin, các protein vận chuyển ôxy trong các tế bào máu đỏ, hematocrit, tỷ lệ của các tế bào máu đỏ, thành phần chất lỏng, hoặc huyết tương trong máu, tiểu cầu giúp đông máu. Gia tăng bất thường hoặc giảm số lượng tế bào, cho biết số lượng máu toàn bộ. Đặc biệt, CBC còn được xem là xét nghiệm cơ bản, cho nhóm vô sinh muốn thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Lý do thủ tục IVF, đòi hỏi phải phẫu thuật để lấy trứng, nên bác sĩ cần biết các thông số về máu, nhất là nguy cơ thiếu máu.

2. Xét nghiệm tỷ lệ hồng cầu lắng (ESR).

Xét nghiệm tỷ lệ hồng cầu lắng, hay kiểm tra tốc độ SED, là xét nghiệm máu, để biết mức độ viêm nhiễm trong cơ thể. Xét nghiệm ESR không phải là một công cụ chẩn đoán độc lập, nhưng có thể giúp bác sĩ chẩn đoán, sự tiến triển của một chứng bệnh viêm nhiễm. Mẫu máu chứa trong một chiếc ống, tế bào máu đỏ lắng xuống đáy. Nếu tốc độ lắng càng nhanh, thì nguy cơ viêm nhiễm càng lớn. Lý do, viêm nhiễm, làm cho các tế bào liên kết lại, dày đặc hơn so với máu của người khỏe mạnh. Xét nghiệm này thường đo tốc độ lắng, đo khoảng cách các tế bào máu đỏ trong ống nghiệm, trong vòng một giờ. Nó rất cần trong việc chẩn đoán vô sinh, thường được làm trước xét nghiệm hysterosalpinogogram (HSG), một thử nghiệm để chẩn đoán để kiểm tra vô sinh.

3. Kiểm tra đường huyết.

Đây là phương pháp kiểm tra nhanh lượng đường có trong máu, hay còn gọi là đường huyết. Người ăn chay so với người ăn uống bình thường, thường có lượng đường huyết khác nhau, nó có thể ảnh hưởng tới cơ hội mang thai của phụ nữ. Do đó, việc kiểm tra lượng đường trong máu và insulin, là những tiêu chí quan trọng, để biết nguy cơ vô sinh của người trong cuộc.

4. Xét nghiệm VDRL.

VDRL là xét nghiệm tìm kháng thể giang mai. Phản ứng dùng kháng nguyên chế từ tim bò, cho phản ứng với huyết thanh của người bệnh. Nếu kết tủa như bông là phản ứng dương tính, do huyết thanh pha nhiều độ loãng khác nhau, nên mức dương tính được thể hiện bằng ít, hay nhiều các dấu cộng: Phản ứng nhạy, dễ làm, nhưng đặc hiệu không cao. Muốn có đặc hiệu cao, phải dùng kháng nguyên là bản thân xoắn khuẩn Treponema, (như phản ứng TPI, TPHA). Đây là sàng lọc khi khám sức khỏe, để biết nguy cơ giang mai. Giang mai không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, nhưng không được điều trị, có thể ảnh hưởng đến cả mẹ và thai nhi. Vì vậy, trước khi có thai, kiểm tra này là cần thiết và đưa vào thử nghiệm vô sinh.

5. Rubella IgG.

Xét nghiệm này xác định để biết, nếu đang miễn dịch với virut Rubella, thì không phải khám vô sinh, nhưng hầu hết phụ nữ được miễn dịch với virut trước khi thụ thai. Nếu sản phụ mang virut trong 3 tháng đầu thai, sẽ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng tới thai nhi.

6. Thử nghiệm vitamin B12 và D3.

Biết được mức độ vitamin B12 hoặc folate, là rất quan trọng để xác định nguy cơ thiếu máu, còn mức vitamin D3 lại có liên quan đến vô sinh ở phụ nữ.

7. Xét nghiệm hormon tuyến giáp.

T3, T4 tự do và kích thích tuyến giáp (TSH), là những loại hormon tuyến giáp, nếu không nằm trong ngưỡng mong muốn, thì rất có thể tuyến giáp đang hoạt động quá mức, hoặc hoạt động kém chuyên, gọi là cường giáp và suy giáp. Rối loạn chức năng tuyến giáp, có ảnh hưởng lớn đến quá trình rụng trứng và mang thai, vì vậy, xét nghiệm này rất cần, để biết nguy cơ gây vô sinh, cũng như cho nhóm người mắc bệnh tuyến giáp muốn sinh con.

8. Xét nghiệm nội tiết.

Xét nghiệm nội tiết được thực hiện, để khảo sát tình trạng hoạt động của buồng trứng, cũng như khả năng dự trữ noãn. Ngoài ra, xét nghiệm nội tiết, còn được dùng để theo dõi sự phát triển, nang noãn và có rụng trứng, đặc biệt biết được mức độ hormon sinh sản, nguy cơ vô sinh gây ra do sự can thiệp, trong quá trình rụng trứng, hoặc dự trữ buồng trứng không phù hợp.

Xét nghiệm prolactin, đây là một hormon cần thiết, cho việc duy trì khả năng sinh sản ở phụ nữ. Nó ức chế hormon sinh sản, cụ thể là hormon kích thích nang (FSH), và hormon bài tiết gonadotropin (GnRH). Các hormon này cần để kích hoạt sự rụng trứng, cho phép trứng phát triển và trưởng thành. Nếu hàm lượng prolactin cao, sẽ ảnh hưởng đến rụng trứng và rất dễ gây ra vô sinh.

Hormon AMH (Anti Müller Hormone), được sản xuất bởi các tế bào trong nang buồng trứng. Mức độ của các kích thích tố này, còn cho biết khả năng dự trữ buồng trứng, hoặc cung cấp trứng trong buồng trứng, nếu hàm lượng AMH thấp, thì khả năng vô sinh cao.

Hormone FSH, đây là hormon chịu trách nhiệm chính, cho việc kích thích sản xuất trứng. Nếu nồng độ FSH cao, thì khả năng dự trữ buồng trứng thấp, nguy cơ mắc hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) .

Hormon LH, (thường được làm vào ngày thứ 2, hoặc thứ 3 của chu kỳ kinh nguyệt). LH (lutenizing hormon), là một trong những nội tiết tố quan trọng nhất, cho quá trình sinh sản. Nếu nồng độ LH có thể can thiệp vào quá trình rụng trứng, và chu kỳ kinh nguyệt, gia tăng nguy cơ mắc hội chứng buồng trứng đa nang, dẫn đến vô sinh.

Hormon E2 hoặc estradiol, (thường được làm vào ngày thứ 2, hoặc thứ 3 của chu kỳ kinh nguyệt). Estradiol (E2), hoặc estrogen, là hormon sinh dục nữ quan trọng, được sản xuất trong buồng trứng. Các nang trứng trong buồng trứng, tiết ra estrogen kích hoạt các chu kỳ sinh sản.

Theo: Thehealthsite.

Nguồn: Internet
  • Vô sinh nam

    Vô sinh nam
    Vô sinh nam chiếm 50% trong các cặp vợ chồng trục trặc đường sinh nở. Có những yếu tố nội, ngoại khoa liên quan đến tình trạng vô sinh ở nam giới.
  • Hiếm muộn nam - Chữa cách gì?

    Hiếm muộn nam - Chữa cách gì?
    Vũ khí độc của cánh nam khoa chính là vi phẫu thuật để điều trị các trường hợp vô sinh do tắc ống dẫn tinh, tắc ống mào tinh, giãn tĩnh mạch tinh...
  • Yếu sinh lý, có thể do...

    Yếu sinh lý, có thể do...
    Khá nhiều đàn ông trên thế giới phải chịu đựng nhiều điều lo lắng khiến họ khó duy trì được cuộc sống chăn gối thường xuyên.
  • Phụ nữ trung tuổi dễ mắc bệnh trầm cảm

    Phụ nữ trung tuổi dễ mắc bệnh trầm cảm
    Theo báo cáo mới nhất của Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống dịch bệnh Mỹ (CDC), so với nam giới, phụ nữ dễ mắc bệnh trầm cảm nhất.
  • Stress là thủ phạm gây đái tháo đường ở phụ nữ

    Stress là thủ phạm gây đái tháo đường ở phụ nữ
    Thông tin về một nghiên cứu mới của Canada cho rằng stress trong công việc làm tăng gấp đôi nguy cơ phụ nữ mắc bệnh đái tháo đường đã làm nhiều chị em lo lắng.
  • Són tiểu - bệnh thầm kín của phụ nữ

    Són tiểu - bệnh thầm kín của phụ nữ
    Theo ước tính của các bác sĩ Trung tâm phục hồi chức năng BV Bạch Mai, số người mắc chứng bệnh này chiếm 1/3 bệnh nhân đến điều trị tại đây.
  • Phụ nữ nên cảnh giác với bệnh sỏi mật

    Phụ nữ nên cảnh giác với bệnh sỏi mật
    Tuổi tác, béo phì, hormone... là những tác nhân đầu tiên khiến cho phụ nữ dễ mắc bệnh sỏi mật. Chị em hãy cảnh giác với căn bệnh này nhé.
  • Đi tìm nguyên nhân gây bệnh sỏi ở phụ nữ

    Đi tìm nguyên nhân gây bệnh sỏi ở phụ nữ
    Sỏi thận, sỏi mật là căn bệnh mà ai cũng có thể mắc phải. Tuy nhiên, chúng có mối liên hệ đặc biệt với nữ giới, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và hạnh phúc gia đình.
  • Năng vận động giúp tránh sỏi thận ở phụ nữ

    Năng vận động giúp tránh sỏi thận ở phụ nữ
    4 giờ chăm sóc cây trong vườn, 3 giờ đi bộ hay 1 giờ chạy chậm trong một tuần sẽ giúp giảm 31% nguy cơ hình thành sỏi thận ở phụ nữ.
  • Chớ coi thường bệnh sỏi thận ở phụ nữ

    Chớ coi thường bệnh sỏi thận ở phụ nữ
    Thận làm nhiệm vụ giúp lọc ra các chất thải từ các nước ra ngoài cơ thể thông qua đi tiểu. Tuy nhiên, sỏi thận ở phụ nữ là khá phổ biến.
1  ... Tiếp » 
Tải ứng dụng Mạng Y Tế trên CH PLAY