Tiếp cận điều trị sốt và tăng thân nhiệt

Tăng thân nhiệt không có sự điều chỉnh của cytokin xảy ra khi sự sản xuất nhiệt do chuyển hóa của cơ thể hoặc tái nhiệt của môi trường vượt quá khả năng mất nhiệt bình thường
Mục lục

Nhiệt độ thân thể bình thường trung bình lấy ở miệng là 36°7C (trong khoảng 36 - 37,4°C). Các phạm vi này bao gồm 2 độ lệch tiêu chuẩn do đó bao gồm 95% dân số bình thường, được lấy nhiệt độ vào giữa buổi sáng. Nhiệt độ bình thường lấy ở trực trắng và âm đạo cao hơn nhiệt độ lấy ở miệng là 0,5%, và nhiệt độ ở nách bình thường thẩp hơn. Nhiệt độ trực tràng đáng tin cậy hơn nhiệt độ miệng, đạc biệt ở các bệnh nhân thở qua miệng hoặc thở nhanh.

Biến thiên nhiệt độ trong cả ngày đêm bình thường có thể bằng 1°C, vì nhiệt độ thấp nhất vào sáng sớm và cao nhất vào buổi chiều tối. Có sự tăng nhiệt độ kéo dài sau rụng trứng trong kỳ kinh và trong 3 tháng đầu có thai.

Sốt là sự tăng có điều hòa, tới một điểm cố định mới của thân nhiệt. Khi các nhân tố kích thích thích đáng tác động vào bạch cầu đơn nhân - thực bào lớn - thích hợp, các tế bào này sản xuất ra một trong nhiều cytokin là chất sinh nhiệt, điều này làm cho điểm cố định nâng cao qua các tác dụng của vùng dưới đồi thị. Các cytokin này bao gồm interleukin - 1 (IL - 1) nhân tố hoại tử u (TNF), intorferon - garhma va interleukin - 6 (IL-6). Sự nâng cao nhiệt độ có thể là kết quả của sản xuất nhiệt (run người) hoặc giảm mất nhiệt (co mạch ngoại biên). Thân nhiệt trong sốt do interleukin -1 gây nên hiếm khi vượt quá 41,10C trừ khi có sự tổn hại cấu trúc trong vùng dưới đồi thị.

Tăng thân nhiệt không có sự điều chỉnh của cytokin xảy ra khi sự sản xuất nhiệt do chuyển hóa của cơ thể hoặc tái nhiệt của môi trường vượt quá khả năng mất nhiệt bình thường hoặc có sự mất nhiệt bị sút kém; cơn say nóng là một ví dụ. Thân nhiệt có thể tăng lên đến mức báo động (> 41,1°C) có thể gây ra tổn thương não không hồi phục; không nhận thấy có sự biến thiên trong ngày đêm.

Hội chứng an thần ác tính là một phản ứng đặc ứng hiếm thấy có khả năng gây chết đối với thuốc an thần chủ yếu, đặc biệt là hạloperidol và fluphenazin. Hội chứng có thể là một biến thể của tăng thân nhiệt ác tính do gây mê, bao gồm tăng thân nhiệt, cứng cơ, rối loạn chức năng tự động, và ý thức biến đổi xẩy ra sau các liều thuốc điều trị để làm các gây mê đường thở thường dùng khác nhau và các tác nhân phóng bế khử cực thần kịnh - cơ; nó không liên quan với liều lượng hoặc thời hạn. Một số ưu thế đã được thông báo khi sử dụng dantrolen, amantadin và bromocriptin

Ảnh hưởng của tăng thân nhiệt

Sốt như là một triệu chứng thường được để ý đến với sự quan tâm thích đáng. Thân nhiệt có thể cung cấp thông tin quan trọng về sự xuất hiện của đau yếu, đặc biệt các bệnh nhiễm khuẩn, và về các thay đổi trạng thái lâm sàng của bệnh nhân. Tuy nhiên mô hình sốt có tác dụng khá hạn chế về chẩn đoán cụ thể. Hơn nữa, mức độ nâng cao thân nhiệt không hẳn tương ứng vối độ nặng của đau yếu. Nói chung, đáp ứng sốt có xu hướng mạnh hơn ở trẻ em so với ở người lớn; ở những người già và trẻ mới đẻ, những người đang sử dụng một số thuốc (như các thuốc chống viêm không steroid, các corticosterosid) thấy đáp ứng sốt kém rõ rệt, thậm chí không xuất hiện mặc dầu có nhiễm khuẩn huyết.

Thân nhiệt tăng cao rõ rệt có thể đưa đến các rối loạn chuyển hóa sâu. Nhiệt độ cao trong ba tháng đầu có thai có thể gây ra các khuyết tật bẩm sinh như không có não. Sốt có thể làm tăng các nhu cầu về insulin và cũng làm biến đổi chuyển hóa và khuynh hướng của các thuốc được sử dụng để chữa các bệnh khác nhau liên quan với sốt.

Các lưu ý khi chẩn đoán

Phác thảo dưới đây minh họa sự đa dạng rộng lớn của các rối loạn có thể gây ra sốt. Phần lớn các đau yếu có sốt là do các bệnh nhiễm khuấn thông thường, chỉ trong một thời gian ngắn và tương đối dễ chẩn đoán. Trong một số trường hợp nguồn gốc của sốt có thể không rõ ("sốt không rõ căn nguyên" - SKC) sau thời gian dài thăm khám chẩn đoán. Thuật ngữ SKC theo truyền thống được dành cho những trường hợp sốt trên 38,3°c trong 3 tuần ở các bệnh nhân mà chẩn đoán chưa rõ sau nghiên cứu 1 tuần hay lâu hơn. Ở Hoa Kỳ, sốt không rõ căn nguyên liên quan với nhiễm HIV đang ngày càng trở nên quan trọng, Trong một nghiên cứu, sốt đã xẩy ra ở gần nửa số bệnh nhân nhiễm HIV đã tiến triển, được theo dõi trong 9 tháng. Sự đánh giá cẩn thận đã đưa tới một chẩn đoán cụ thể trong đa số các đợt sốt (83%). Các nhiễm khuẩn xác định, AIDS và các ung thư chiếm nửa số chẩn đoán. Các chẩn đoán thông thường nhất ở các bệnh nhân sốt đòi hỏi hơn 2 tuần đánh giá là viêm phổi do Pneumocystis Carinii, Mycobacterium Avium Intracellulare (MAI) và u lympho. Trong loạt trường hợp nghiên cứu tiến cứu, 199 trường hợp liên tiếp các bệnh nhân SKC từ những năm 1980, các nhiễm khuẩn đặc biệt là lao, megalocytovirus và các áp xe - chiếm 23% các trường hợp; các bệnh đa hệ - như viêm động mạch tế bào khổng lồ và bệnh Still chiếm 22%; các u ác tính - huyết học và thuần nhất chiếm 7%; sốt liên quan với thuốc chiếm 3%; sốt giả tạo chiếm 4%; tăng thân nhiệt thường xuyên chiếm 3% và các nguyên nhân pha tạp - như là tấc mạch phổi và bệnh Crohn - chiếm 15%. Không thể đặt chẩn đoán vững chắc trong 26% các trường hợp. Siêu âm và chụp cắt lớp vi tính để chẩn đoán đưa đến chẩn đoán cụ thể trong 8% và 15% các trường hợp theo thứ tự trên.

Các nguyên nhân quan trọng gây sốt và tăng thân nhiệt

Các nhiễm khuẩn

Vi khuẩn, virus, rickettsia, ký sinh trùng.

Các bệnh tự miễn dịch

Luput ban đỏ hệ thống, viêm đa động mạch có khối kết hạch, thấp khớp cấp, đau da - cơ do thấp, viêm động mạch tế bào khổng lồ, viêm mạch máu nhỏ, viêm đa sụn tái phát; kém nổi bật là viêm da - cơ, viêm khớp dạng thấp ở người lớn.

Các bệnh cùa hệ thần kinh trung ương

Xuất huyết não, các tổn thương ở đầu, các u não và tủy sống, bệnh thoái hóa hệ thần kinh trung ương (xơ cứng tỏa lan), các tổn thương tủy sống (loại này thể hiện sự cản trở quá trình điều hòa nhiệt chứ không phải là "sốt" thật sự).

Các bệnh tân sản ác tính

Các tân sản nguyên phát (ruột kết và trực tràng, gan, thận, u nguyên bào thần kinh), các u di căn đến gan.

Bệnh về máu

U lympho, các bệnh bạch cầu, các thiếu máu huyết tán.

Bệnh tim mạch

Nhồi máu cơ tim, viêm nghẽn tĩnh mạch, tắc mạch phổi.

Bệnh dạ day - ruột

Bệnh viêm ruột, áp xe gan, viêm gan do rượu, viêm gan u hạt.

Bệnh nội tiết

Cường năng tuyến giáp, u tế bào ưa crôm có thể nâng cao thân nhiệt do sự điều nhiệt bị biến đổi.

Các bệnh do tác nhân hóa học

Các phản ứng với thuốc (kể cả chứng bệnh do huyết thanh), hội chứng an thần ác tính, tăng thân nhiệt ác tính do gây mê, hội chứng tăng tiết serotonin.

Các bệnh pha tạp

Bệnh sarcoid (Besnier - Boeek - Schaumann), sốt gia đình kiểu Địa Trung Hải, tổn thương các mô, bọc máu.

Sốt giả tạo.

Điều trị

Phần lớn sốt được chịu đựng tốt. Khi thân nhiệt lên quá 40°C đặc biệt nếu kéo dài, cơ thể cần phải điều trị triệu chứng. Thân nhiệt trên 41°C là một cấp cứu.

Các biện pháp giải nhiệt

Chườm bằng bọt biển thấm rượu, bọt biển lạnh, các túi nước đá, thụt nước lạnh và tắm nước lạnh sẽ hạ nhiệt cho cơ thể, làm bệnh nhân dễ chịu khi đang phàn nàn cảm thấy nóng bức.

Các thuốc hạ nhiệt

Trong phần lớn các trường hợp, liệu pháp hạ nhiệt bản thân nó là không cân thiết ngoài các lý do làm dễ chịu hoặc ở các bệnh nhân trong trạng thái huyết động không thụận lợi. Aspirin hoặc acetaminophen 0,325 - 0,65g, 4 giờ một lần là hoàn toàn hiệu nghiệm làm giảm sốt. Nếu cho thuốc, tốt nhất là liên tục chứ không chỉ khi nào cần, vì cho liều "tức thời" đưa đến rét run và vã mồ hôi từng thời kỳ do các mức độ thay đổi của thuốc.

Bù dịch

Phải cho uống dịch, hoặc tiêm truyền để bù lại mất dịch qua mồ hôi và tăng điện giải.

Liệu pháp kháng sinh

Các bệnh nhân sốt có thể xác định là do nhiễm khuẩn có ý nghĩa lâm sàng, dĩ nhiên phải được bắt đầu điều trị kháng sinh thích đáng. Liệu pháp kháng sinh phổ rộng kịp thời theo kinh nghiệm cũng được chỉ định cho các bệnh nhân sốt với khả năng nhiễm khuẩn nặng ngay cả trước khi xác minh được nhiễm khuẩn bằng xét nghiệm. Điều này đặc biệt đúng đối với các bệnh nhân bất ổn về huyết động nghi ngờ mắc nhiễm khuẩn huyết, đối với các bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính nặng (bạch cầu trung tính dưới 500/ml) và đối với các bệnh nhân không còn lách hoặc bị ức chế miễn dịch (bao gồm cả những người dùng corticosteroid, azathioprin, cyclosporin hoặc các thuốc ức chế miễn dịch khác và những người nhiễm HIV). Đối với nhiều bệnh nhân sốt, thường có thể hoãn liệu pháp kháng sinh theo kinh nghiệm để chờ đánh giá thêm.

Nguồn: Internet.
Nguồn: Điều trị
1  ... Tiếp » 

Một số dạng nấm gây nhiễm trùng cơ hội

Một số dạng nấm gây nhiễm trùng cơ hội
Trong các tổ chức của bệnh nhân bị bệnh nấm sợi đen, nấm có mầu đen hoặc mầu nâu nhạt, tế bào nấm đen hoặc cả hai

U nấm: Mycetoma, Maduromycosis và Actinomycetoma

U nấm: Mycetoma, Maduromycosis và Actinomycetoma
Tất cả các thuốc khác có thể nên dùng trong nhiều tháng và tiếp tục dùng trong vài tháng sau khi triệu chứng lâm sàng được cải thiện để dự phòng tái phát. Phẫu thuật mở rộng giúp cho sự liền sẹo.

Nhiễm nấm da kéo dài: chẩn đoán và điều trị

Bệnh nấm Sporotrichum: chẩn đoán và điều trị

Các nhiễm trùng do Penicillium marneffei: chẩn đoán và điều trị

Bệnh nấm Blastomyces vùng nam mỹ: paracocci Dioimomycosis

Bệnh ấu trùng di trú nội tạng: bệnh giun toxocara

Bệnh ấu trùng di trú nội tạng: bệnh giun toxocara
Phương pháp phòng bệnh ở người tốt nhất là điều trị định kỳ chó con, mèo con, chó và mèo mẹ đang trong thời kỳ cho con bú, bắt đầu từ 2 tuần sau khi đẻ

Bệnh giun tóc: bệnh giun roi ngựa

Bệnh giun tóc: bệnh giun roi ngựa
Bệnh nhân nhiễm giun nhẹ không triệu chứng không cần phải điều trị. Trường hợp nhiễm giun nặng hơn hoặc có triệu chứng, điều trị mebendazol, albendazol hoặc oxantel.

Bệnh giun xoắn: chẩn đoán và điều trị

Bệnh giun chỉ Onchocera: chẩn đoán và điều trị

Bệnh giun chỉ Loa loa: chẩn đoán và điều trị

Bệnh giun móc: chẩn đoán và điều trị

Bệnh Lyme: nhiễm Borrelia Lyme

Bệnh Lyme: nhiễm Borrelia Lyme
Căn bệnh này, được đặt tên theo thị trấn old Lyme, Connecticut, do xoắn khuẩn Borrelia burgdoíeri gây nên, lây truyền cho người qua ve bọ ixodid, một bộ phận của phức hệ Ixodes ricinus.

Bệnh do Leptospira: chẩn đoán và điều trị

Bệnh do Leptospira: chẩn đoán và điều trị
Nước tiểu có thể có sắc tố mật, protein, cặn và hồng cầu. Đái ít không phải là ít gặp và trong các trường hợp nặng tăng urê máu có thể xuất hiện

Sốt do chuột cắn: xuắn khuẩn, bệnh Sodocu

Sốt hồi quy: chẩn đoán và điều trị

Bệnh xoắn khuẩn không lây qua đường tình dục: chẩn đoán và điều trị

Các giai đoạn lâm sàng của Giang mai: chẩn đoán và điều trị

Những điều cần chú ý trong chăm sóc nguời già

Những điều cần chú ý trong chăm sóc nguời già
Những công trình nghiên cứu gần đây chứng minh sự cần thiết điều trị ngoại trú người tăng huyết áp tâm thu và tâm trương cũng như chỉ có tăng huyết áp tâm thu đơn thuần.

Phản ứng thuốc, bệnh do thuốc gây nên ở người cao tuổi

Phản ứng thuốc, bệnh do thuốc gây nên ở người cao tuổi
Chỉ sử dụng thuốc khi các biện phấp điều trị không dùng thuốc không có kết quả hoặc không đủ hiệu lực hoặc không thể thực hiện được

Tiểu tiện không tự chủ ở người cao tuổi

Trạng thái mất ổn định ở người cao tuổi: mất ổn định thể lực, ngã, đi chệnh choạng

Tình trạng bất động ở bệnh nhân cao tuổi

Giảm sút trí tuệ ở người cao tuổi

Theo dõi bệnh nhân trong quá trình hỗ trợ dinh dưỡng

Theo dõi bệnh nhân trong quá trình hỗ trợ dinh dưỡng
Những bệnh nhân có cân bằng nitơ dương tính có thể được tiếp tục chế độ hiện tại của họ, những bệnh nhân có cân bằng nitơ âm tính thì nên tăng vừa phải lượng calo và protein đưa vào, sau đó đánh giá lại.

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa
Các biến chứng chuyển hóa của hỗ trợ dinh dưỡng đường tĩnh mạch trung tâm xảy ra ở trên 50% số bệnh nhân. Hầu hết là nhẹ và dễ xử trí, hiếm khi cần phải ngừng hỗ trợ dinh dưỡng.

Các dung dịch hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa

Các dung dịch hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa

Nhu cầu dinh dưỡng của bệnh nhân

Hạ đường huyết do Pentamidin: chẩn đoán và điều trị

Hạ đường huyết do Pentamidin: chẩn đoán và điều trị
Tiếp theo liệu trình điều trị đầy đủ bằng pentamidin, cần theo dõi glucose máu lúc đói hay glycohemoglobin sau đó để đánh giá phạm vi phục hồi tế bào β tụy hoặc di chứng tổn thương.

Hạ đường huyết do bệnh lý miễn dịch: chẩn đoán và điều trị

Hạ đường huyết do bệnh lý miễn dịch: chẩn đoán và điều trị
Muộn hơn sau khi phần lớn thức ăn được hấp thu, nồng độ insulin cao một cách không thích hợp phân ly khỏi phần kháng thể gắn vào nó, gây ra hạ đường huyết.

Hạ đường huyết giả tạo

Hạ đường huyết liên quan với rượu: lúc đói sau uống rượu

Hạ đường huyết sau bữa ăn: phản ứng

Hạ đường huyết do u ngoài tụy: chẩn đoán và điều trị

Rối loạn tâm thần tình dục (chẩn đoán và điều trị)

Rối loạn tâm thần tình dục (chẩn đoán và điều trị)
Đặc điểm chính của kích thích tình dục là chúng thường có nguồn gốc tâm lý ban đầu. Sự nghèo nàn về kinh nghiệm quan hệ tình dục khác giới sẽ càng củng cố đặc điểm này theo thời gian.

Những vấn đề tâm thần liên quan đến nằm viện và các rối loạn do dùng thuốc, phẫu thuật

Những vấn đề tâm thần liên quan đến nằm viện và các rối loạn do dùng thuốc, phẫu thuật
Những vấn đề về hành vi, thường liên quan đến phủ định bệnh. Trong những trường hợp cực đoan, những vấn đề này có thể thúc đẩy bệnh nhân trốn viện, làm ngược lại chỉ dẫn về y tế.

Các rối loạn tâm thần ở người cao tuổi: chẩn đoán và điều trị

Mê sảng, sa sút trí tuệ và các rối loạn nhận thức: hội chứng não thực thể

Phụ thuộc các chất hỗn hợp và dung môi: chẩn đoán và điều trị

Phụ thuộc Caffein: chẩn đoán và điều trị nghiện cà phê

Hội chứng liệt chu kỳ: periodic paralysis syndrome

Hội chứng liệt chu kỳ: periodic paralysis syndrome
Ở thanh niên Châu Á, hội chứng này thường đi kèm hội chứng cường giáp, điều trị là cần điều chỉnh nội tiết trước và phòng cơn tái phát sau đó.

Các rối loạn bệnh lý cơ: chẩn đoán và điều trị

Các rối loạn bệnh lý cơ: chẩn đoán và điều trị
Các bệnh cơ ty lạp thể là một nhóm các rối loạn có biểu hiện lâm sàng đa dạng. Xét nghiệm mô bệnh học với phương pháp nhuộm Gomori cải tiến cho hình ảnh tổn thương đặc trưng

Các rối loạn liên quan đến sử dụng kháng sinh Aminoglycosid

Bệnh ngộ độc thịt: ngộ độc clostridium botulinum

Hội chứng nhược cơ: hội chứng Lambert Eaton

Bệnh nhược cơ nặng: chẩn đoán và điều trị

Khối u tinh hoàn: chẩn đoán và điều trị

Khối u tinh hoàn: chẩn đoán và điều trị
Trong khi nguyên nhân của ung thư tinh hoàn còn chưa rõ, cả yếu tố bẩm sinh và mắc phải cũng đi kèm với sự phát triển khối u

Khối u ở thận: chẩn đoán và điều trị

Khối u ở thận: chẩn đoán và điều trị
Những khối u thận thường được phát hiện đầu tiên bằng chụp hệ tiết niệu cản quang qua đường tĩnh mạch. Muốn đánh giá sâu hơn thì cần siêu âm để xác định xem u dạng rắn hay u dạng nang.

Ung thư niệu quản và bể thận: chẩn đoán và điều trị

Ung thư bàng quang: chẩn đoán và điều trị

Ung thư tuyến tiền liệt: chẩn đoán và điều trị

Tăng sản tuyến tiền liệt lành tính: chẩn đoán và điều trị

Các bệnh đa hệ thống có tổn thương thận

Các bệnh đa hệ thống có tổn thương thận
Cần điều trị bệnh nhân bị đa u tủy xương có protein Bence Jones niệu bằng melphalan và prednison. Tránh làm tăng calci máu và uống nhiều nước

Bệnh nang thận: chẩn đoán và điều trị

Bệnh nang thận: chẩn đoán và điều trị
Đau bụng và mạng sườn là do nhiễm khuẩn, chảy máu trong nang hoặc do sỏi thận. Điều trị thông thường bằng các thuốc giảm đau và nghỉ ngơi tại giường

Bệnh ống thận mô kẽ mạn tính: chẩn đoán và điều trị

Các bệnh ống thận - tổ chức kẽ

Bệnh thận thể hiện cả hội chứng thận hư và thận viêm

Bệnh thận hư do các bệnh hệ thống: chẩn đoán và điều trị