Tiếp cận bệnh nhân mệt nhọc

Hội chứng mệt nhọc mạn tính không phải là bệnh đồng nhất và không có một cơ chế sinh bệnh duy nhất. Không có phát hiện thực thể hoặc test ở labô nào có thể xác minh chẩn đoán về hội chứng này.

Mệt nhọc là một trong các triệu chứng trường gặp nhất đối mặt với người hành nghề ở phòng khám. Tại các khung cảnh chăm sóc bước đầu, mệt nhọc như một triệu chứng tách biệt hoặc chẩn đoán chiếm 1- 3% các lần thăm bệnh của thầy thuốc đa khoa. Các triệu chứng mệt nhọc có thể kém được xác định rõ hoặc do các bệnh nhân giải thích hơn là các triệu chứng liên kết với các chức năng chuyên biệt như là sốt hoặc khó thở. Mệt nhọc hoặc mỏi mệt và những điều than phiền có liên quan chặt chẽ về yếu đuối, mệt đờ và uể oải rất thường được giải thích dễ dàng bằng các nhân tố thông thường nhự tập luyện quá mức, các điều kiện vật chất kém, nghỉ ngơi không đầy đủ, béo phì, kém nuôi dưỡng, stress và các vấn đề cảm xúc. Hỏi kỹ về cuộc sống hàng ngày và các thói quen làm việc của bệnh nhân có thể loại bỏ nhu cầu nghiên cứu chẩn đoán rộng rãi và vô ích.

Các bệnh quan trọng có thể gây mệt nhọc bao gồm các rối loạn nội tiết như là cường giáp trạng hoặc suy giáp trạng, bệnh tim (suy tim xung huyết), các nhiễm khuẩn (viêm màng trong tim, viêm gan), các rối loạn hô hấp (bệnh phổi mạn tính do nghề nghiệp/ngừng thở khi ngủ), thiếu máu, các bệnh viêm - hư khớp và các rối loạn liên quan, ung thư, nghiện rượu, tác dụng phụ của thuốc như thuốc an thần, chặn bêta, và các bệnh tâm lý như mất ngủ, chán nản, và rối loạn về phát triển thân thể.

Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây đề xuất rằng các rối loạn tâm thần có thể có liên quan trong gần 50% các trường hợp.

Trong một nghiên cứu bốn cộng đồng gần 40.000 cá nhân, tỷ lệ thời gian cuộc đời bị mệt nhọc có ý nghĩa (kéo dài ít nhất 2 tuần) đã là 24%. Theo như báo cáo, mệt rìhộc thường là do các nguyên nhân không rõ nhiều hơn hoặc do đau yếu tâm thần nhiều hơn là đau yểu thể chất, thương tích, thuốc men, ma túy và rượu. Các rối loạn tâm thần liên quan với mệt nhọc bao gồm chán nản, rối loạn ước muốn, các rối loạn hình dạng thể chất, cơn hoảng sợ và lạm dụng rượu.

Hội chứng mệt nhọc mạn tính

Hội chứng mệt nhọc mạn tính gần đây được chú ý đến nhiều. Một bảng xác định trường hợp có thể chấp nhận về hội chứng này đã được xây dựng vào năm 1988. Hội chứng mệt nhọc mạn tính không phải là bệnh đồng nhất và không có một cơ chế sinh bệnh duy nhất. Không có phát hiện thực thể hoặc test ở labô nào có thể xác minh chẩn đoán về hội chứng này.

Một nghiên cứu mởi đây nêu vấn đề liệu có một số trường hợp của hội chứng mệt nhọc mạn tính có thể được gây ra do một quá trinh viêm mạn tính có sự điều chỉnh miễn dịch học của hệ thần kinh trung ương không. Nghiên cứu đã thấy các tỷ suất tế bào T CD4: CD8 cáo hơn so với trong số các đối chứng so sánh; các phát hiện bằng hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) não thường thấy hơn về các khu vực dưới vỏ, lốm đốm có cường độ báo hiệu cao, gợi ý về phù nề hoặc mất myelin; và các nuôi cấy tế bào lyrhpho cho thấy sự tái tạo tích cực virus herpes - 6 của người nhiều hơn. Tuy nhiên, phát hiện tái tạo tích cực của virus herpes - 6 của người có lẽ biểu thị sự khôi phục hoạt động của nhiễm khuẩn tiềm tàng nhiều hơn là nhiễm khuẩn bước đầu.

Hội chứng này có vẻ không có liên quan với nhiễm virus Epstein - Barr mạn tính hoặc nhiễm nấm mạn tính; một số trưòng hợp bệnh Lyme cổ thể là tương tự về mặt lâm sàng.

Một nhóm bác sĩ trong hội đồng năm 1991 của Viện y học Quốc gia đã khuyến nghị một bảng tiêu chuẩn các test la bô cho lần thăm khám bệnh nhân đầu tiên, bao gồm đếm máu toàn bộ có dịch chuyển công thức máu, tốc độ lắng hồng cầu, các phản ứng hóa học huyết thanh (các điện giải, nitơ - urê - huyết, glucose, creatinin, calci, các test chức năng tuyến giáp), các kháng thể kháng nhân, phân tích nước tiểu, test tuberculih ở da, và các bản câu hỏi kiểm tra về các rối loạn tâm thần. Các test khác phải thực hiện theo chỉ định lâm sàng là cortisol huyết thanh, yếu tố dạng thấp, các mức độ globulin miễn dịch, xét nghiệm huyết thanh học bệnh Lyme ở các vùng lưu hành và các test kháng thể HIV. Đây có vẻ là một chiến lược chẩn đoán hợp lý hơn là việc thử nghiệm rộng rãi hơn mà các bác sĩ khác đã khuyến nghị. Các kháng thể của virus Epstein - Barr không có ích lợi trong đánh giá các bệnh nhân bị mệt nhọc mạn tính.

Nhiều cách điều trị đã được thử dùng. Acyclovir có vẻ không cải thiện các triệu chứng, nystatin uống hoặc đặt âm đạo cũng vậy. Có một tỷ lệ phổ biến hơn về các chẩn đoán tâm thần trước kia và hiện nay ở những bệnh nhân có hội chứng nặng. Các rối loạn cảm xúc đặc biệt là thường thấy. Trong mọi trường hợp, phải khuyến khích bệnh nhân rèn luyện thân thể và tham gia vào các hoạt động cuộc sống ở mức độ có thể và yên tâm ràng sớm hay muộn phần lớn các trường hợp đều có thể khỏi hoàn toàn.

Bảng. Xác định hội chúng mệt nhọc mạn tính - (HMM)

Một trường hợp của hội chứng mệt nhọc mạn tính phải hội đủ hai tiêu chuẩn chủ yếu dược liệt kê và trong số các tiêu chuẩn 6 hoặc trên 6 trong số 11 tiêu chuẩn triệu chứng và 2 hoặc trên 2 trong số 3 tiêu chuẩn thăm khám thực thể, hoặc 8 hay trên 8 trong số 11 tiêu chuẩn triệu chứng.

Các tiêu chuẩn chủ yếu của HMM

Mệt nhọc kéo dài ít nhất 6 tháng

Sự bắt dầu mới của mệt nhọc kéo dài hoặc tái phát làm suy nhuợc hoặc tính dễ bị mệt nhọc ở một người không hề có tiền sừ về các triệu chứng tương tự, chúng không tan biến với việc nghỉ ngơi trên giường và đủ nghiêm trọng dể làm giảm hoặc suy yếu hoạt dộng trung bình hàng ngày tới dưới 30% mức độ hoạt động của bệnh nhân trưóc khi đau yếu trong một thời kỳ ít nhất là 6 tháng.

Loại trừ các nguyên nhân khác gây mệt nhọc mạn tính

Các bệnh trạng lâm sàng khác có thế gây ra các triệu chứng tương tự phải được loại ra bằng cách đánh giá thận trọng dựa trên bệnh sử, thăm khám lâm sàng và các điều tra labo thích đáng. Các bệnh này bao gồm ung thư, các bệnh tự miễn dịch, các nhiễm khuẩn, bệnh tâm thần mạn tính, bệnh thần kinh - cơ, bệnh nội tiết, nghiện ma túy, hoặc các bệnh mạn tính khác được biết hoặc xác định về phổi, tim, dạ dày - ruột, gan, thận và huyết học.

Các tiêu chuẩn thứ yếu của HMM

Các tiêu chuẩn triệu chứng

Các triệu chứng phải đã bắt dầu vào thời gian hoặc sau thời gian bắt dầu bị dễ mệt nhọc tăng lên và phải đã kéo dài hoặc xẩy ra trong một thời kỳ ít nhất là 6 tháng.

Sốt nhẹ (nhiệt độ lấy ở miệng giũa 37°C và 38°C do bệnh nhân).

Đau họng.

Đau các hạch lympho cổ và nách.

Yếu toàn bộ các cơ không giải thích được.

Đau cơ.

Mệt nhọc toàn thân kéo dài (> 24 giờ) sau khi luyện tập ờ các mức độ mà trước khi đau yếu bệnh nhân đã có thể chịu dựng được dễ dàng.

Đau đầu toàn bộ (thuộc loại độ nặng và mô hình đau khác với các cơn đau đầu mà trước khi đau yếu bệnh nhân đã trải qua).

Đau di chuyển các khớp không sưng, không đỏ.

Các phàn nàn về thần kinh - tâm lý (sợ ánh sáng, ám điểm thoáng qua, hay quên khuấy, dễ nóng nẩy quá mức, bối rối, suy nghĩ khó khăn, mất khả năng chú ý, chán nản).

Rối loạn giấc ngủ (ngủ quá nhiều hoặc mất ngủ).

Mô tả phức hợp triệu chứng chính như là mới phát triển trong một số giờ hoặc một ít ngày.

Các tiêu chuẩn khám thực thể

Các tiêu chuẩn này phải được thày thuổc xác minh trong ít nhất hai dịp và cách nhau ít nhất là một tháng.

Sốt nhẹ (nhiệt độ lấy ở miệng 37°C - 38°C).

Viêm họng không xuất tiết.

Các hạch ở cổ hoặc nách sờ thấy và nhậy cảm đau (< 2 cm đường kính).

Nguồn: Internet.
Nguồn: Điều trị
1  ... Tiếp » 

Một số dạng nấm gây nhiễm trùng cơ hội

Một số dạng nấm gây nhiễm trùng cơ hội
Trong các tổ chức của bệnh nhân bị bệnh nấm sợi đen, nấm có mầu đen hoặc mầu nâu nhạt, tế bào nấm đen hoặc cả hai

U nấm: Mycetoma, Maduromycosis và Actinomycetoma

U nấm: Mycetoma, Maduromycosis và Actinomycetoma
Tất cả các thuốc khác có thể nên dùng trong nhiều tháng và tiếp tục dùng trong vài tháng sau khi triệu chứng lâm sàng được cải thiện để dự phòng tái phát. Phẫu thuật mở rộng giúp cho sự liền sẹo.

Nhiễm nấm da kéo dài: chẩn đoán và điều trị

Bệnh nấm Sporotrichum: chẩn đoán và điều trị

Các nhiễm trùng do Penicillium marneffei: chẩn đoán và điều trị

Bệnh nấm Blastomyces vùng nam mỹ: paracocci Dioimomycosis

Bệnh ấu trùng di trú nội tạng: bệnh giun toxocara

Bệnh ấu trùng di trú nội tạng: bệnh giun toxocara
Phương pháp phòng bệnh ở người tốt nhất là điều trị định kỳ chó con, mèo con, chó và mèo mẹ đang trong thời kỳ cho con bú, bắt đầu từ 2 tuần sau khi đẻ

Bệnh giun tóc: bệnh giun roi ngựa

Bệnh giun tóc: bệnh giun roi ngựa
Bệnh nhân nhiễm giun nhẹ không triệu chứng không cần phải điều trị. Trường hợp nhiễm giun nặng hơn hoặc có triệu chứng, điều trị mebendazol, albendazol hoặc oxantel.

Bệnh giun xoắn: chẩn đoán và điều trị

Bệnh giun chỉ Onchocera: chẩn đoán và điều trị

Bệnh giun chỉ Loa loa: chẩn đoán và điều trị

Bệnh giun móc: chẩn đoán và điều trị

Bệnh Lyme: nhiễm Borrelia Lyme

Bệnh Lyme: nhiễm Borrelia Lyme
Căn bệnh này, được đặt tên theo thị trấn old Lyme, Connecticut, do xoắn khuẩn Borrelia burgdoíeri gây nên, lây truyền cho người qua ve bọ ixodid, một bộ phận của phức hệ Ixodes ricinus.

Bệnh do Leptospira: chẩn đoán và điều trị

Bệnh do Leptospira: chẩn đoán và điều trị
Nước tiểu có thể có sắc tố mật, protein, cặn và hồng cầu. Đái ít không phải là ít gặp và trong các trường hợp nặng tăng urê máu có thể xuất hiện

Sốt do chuột cắn: xuắn khuẩn, bệnh Sodocu

Sốt hồi quy: chẩn đoán và điều trị

Bệnh xoắn khuẩn không lây qua đường tình dục: chẩn đoán và điều trị

Các giai đoạn lâm sàng của Giang mai: chẩn đoán và điều trị

Những điều cần chú ý trong chăm sóc nguời già

Những điều cần chú ý trong chăm sóc nguời già
Những công trình nghiên cứu gần đây chứng minh sự cần thiết điều trị ngoại trú người tăng huyết áp tâm thu và tâm trương cũng như chỉ có tăng huyết áp tâm thu đơn thuần.

Phản ứng thuốc, bệnh do thuốc gây nên ở người cao tuổi

Phản ứng thuốc, bệnh do thuốc gây nên ở người cao tuổi
Chỉ sử dụng thuốc khi các biện phấp điều trị không dùng thuốc không có kết quả hoặc không đủ hiệu lực hoặc không thể thực hiện được

Tiểu tiện không tự chủ ở người cao tuổi

Trạng thái mất ổn định ở người cao tuổi: mất ổn định thể lực, ngã, đi chệnh choạng

Tình trạng bất động ở bệnh nhân cao tuổi

Giảm sút trí tuệ ở người cao tuổi

Theo dõi bệnh nhân trong quá trình hỗ trợ dinh dưỡng

Theo dõi bệnh nhân trong quá trình hỗ trợ dinh dưỡng
Những bệnh nhân có cân bằng nitơ dương tính có thể được tiếp tục chế độ hiện tại của họ, những bệnh nhân có cân bằng nitơ âm tính thì nên tăng vừa phải lượng calo và protein đưa vào, sau đó đánh giá lại.

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa
Các biến chứng chuyển hóa của hỗ trợ dinh dưỡng đường tĩnh mạch trung tâm xảy ra ở trên 50% số bệnh nhân. Hầu hết là nhẹ và dễ xử trí, hiếm khi cần phải ngừng hỗ trợ dinh dưỡng.

Các dung dịch hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa

Các dung dịch hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa

Nhu cầu dinh dưỡng của bệnh nhân

Hạ đường huyết do Pentamidin: chẩn đoán và điều trị

Hạ đường huyết do Pentamidin: chẩn đoán và điều trị
Tiếp theo liệu trình điều trị đầy đủ bằng pentamidin, cần theo dõi glucose máu lúc đói hay glycohemoglobin sau đó để đánh giá phạm vi phục hồi tế bào β tụy hoặc di chứng tổn thương.

Hạ đường huyết do bệnh lý miễn dịch: chẩn đoán và điều trị

Hạ đường huyết do bệnh lý miễn dịch: chẩn đoán và điều trị
Muộn hơn sau khi phần lớn thức ăn được hấp thu, nồng độ insulin cao một cách không thích hợp phân ly khỏi phần kháng thể gắn vào nó, gây ra hạ đường huyết.

Hạ đường huyết giả tạo

Hạ đường huyết liên quan với rượu: lúc đói sau uống rượu

Hạ đường huyết sau bữa ăn: phản ứng

Hạ đường huyết do u ngoài tụy: chẩn đoán và điều trị

Rối loạn tâm thần tình dục (chẩn đoán và điều trị)

Rối loạn tâm thần tình dục (chẩn đoán và điều trị)
Đặc điểm chính của kích thích tình dục là chúng thường có nguồn gốc tâm lý ban đầu. Sự nghèo nàn về kinh nghiệm quan hệ tình dục khác giới sẽ càng củng cố đặc điểm này theo thời gian.

Những vấn đề tâm thần liên quan đến nằm viện và các rối loạn do dùng thuốc, phẫu thuật

Những vấn đề tâm thần liên quan đến nằm viện và các rối loạn do dùng thuốc, phẫu thuật
Những vấn đề về hành vi, thường liên quan đến phủ định bệnh. Trong những trường hợp cực đoan, những vấn đề này có thể thúc đẩy bệnh nhân trốn viện, làm ngược lại chỉ dẫn về y tế.

Các rối loạn tâm thần ở người cao tuổi: chẩn đoán và điều trị

Mê sảng, sa sút trí tuệ và các rối loạn nhận thức: hội chứng não thực thể

Phụ thuộc các chất hỗn hợp và dung môi: chẩn đoán và điều trị

Phụ thuộc Caffein: chẩn đoán và điều trị nghiện cà phê

Hội chứng liệt chu kỳ: periodic paralysis syndrome

Hội chứng liệt chu kỳ: periodic paralysis syndrome
Ở thanh niên Châu Á, hội chứng này thường đi kèm hội chứng cường giáp, điều trị là cần điều chỉnh nội tiết trước và phòng cơn tái phát sau đó.

Các rối loạn bệnh lý cơ: chẩn đoán và điều trị

Các rối loạn bệnh lý cơ: chẩn đoán và điều trị
Các bệnh cơ ty lạp thể là một nhóm các rối loạn có biểu hiện lâm sàng đa dạng. Xét nghiệm mô bệnh học với phương pháp nhuộm Gomori cải tiến cho hình ảnh tổn thương đặc trưng

Các rối loạn liên quan đến sử dụng kháng sinh Aminoglycosid

Bệnh ngộ độc thịt: ngộ độc clostridium botulinum

Hội chứng nhược cơ: hội chứng Lambert Eaton

Bệnh nhược cơ nặng: chẩn đoán và điều trị

Khối u tinh hoàn: chẩn đoán và điều trị

Khối u tinh hoàn: chẩn đoán và điều trị
Trong khi nguyên nhân của ung thư tinh hoàn còn chưa rõ, cả yếu tố bẩm sinh và mắc phải cũng đi kèm với sự phát triển khối u

Khối u ở thận: chẩn đoán và điều trị

Khối u ở thận: chẩn đoán và điều trị
Những khối u thận thường được phát hiện đầu tiên bằng chụp hệ tiết niệu cản quang qua đường tĩnh mạch. Muốn đánh giá sâu hơn thì cần siêu âm để xác định xem u dạng rắn hay u dạng nang.

Ung thư niệu quản và bể thận: chẩn đoán và điều trị

Ung thư bàng quang: chẩn đoán và điều trị

Ung thư tuyến tiền liệt: chẩn đoán và điều trị

Tăng sản tuyến tiền liệt lành tính: chẩn đoán và điều trị

Các bệnh đa hệ thống có tổn thương thận

Các bệnh đa hệ thống có tổn thương thận
Cần điều trị bệnh nhân bị đa u tủy xương có protein Bence Jones niệu bằng melphalan và prednison. Tránh làm tăng calci máu và uống nhiều nước

Bệnh nang thận: chẩn đoán và điều trị

Bệnh nang thận: chẩn đoán và điều trị
Đau bụng và mạng sườn là do nhiễm khuẩn, chảy máu trong nang hoặc do sỏi thận. Điều trị thông thường bằng các thuốc giảm đau và nghỉ ngơi tại giường

Bệnh ống thận mô kẽ mạn tính: chẩn đoán và điều trị

Các bệnh ống thận - tổ chức kẽ

Bệnh thận thể hiện cả hội chứng thận hư và thận viêm

Bệnh thận hư do các bệnh hệ thống: chẩn đoán và điều trị