MangYTe

Mật hôm nay

Phòng và điều trị polyp cholesterol

Có thể trong một lần nào đó bạn đi siêu âm bụng và bác sĩ cho biết là bạn bị polyp cholesterol. Bạn sẽ tự hỏi: đây là loại bệnh gì, điều trị ra sao, có phòng ngừa được không.
Mục lục

. Bạn sẽ tự hỏi: đây là loại bệnh gì, điều trị ra sao, có phòng ngừa được không?

Thế nào polyp cholesterol?

Trước hết phải xác định: polyp cholesterol là dạng u nhô vào trong túi mật không phải là polyp thật.

Trong bệnh polyp túi mật thì polyp cholesterol chiếm 2/3 các trường hợp, đường kính trung bình < 5mm và không bao giờ có kết hợp với sỏi cholesterol.

Polyp cholesterol thường có cuống nhỏ, mảnh, dễ đứt cuống ra ngoài túi mật và gây nghẹt ở đoạn cuối ống mật chủ.

Tác giả Takii (Nhật Bản) báo cáo năm 1994 một trường hợp hiếm gặp, bệnh nhân vàng da tắc mật, đoạn cuối ống mật chủ có polyp 14mm gây tắc nghẽn, và hai polyp trong đường mật, mổ ra là polyp cholesterol.

Chúng tôi nghiên cứu 109 trường hợp polyp túi mật tại BV. Đại học Y Dược TP.HCM thì polyp cholesterol chiếm 56,9% (62/109). Polyp cholesterol thường gặp là đa polyp (≥ 2 polyp), có cuống và lớn nhanh, có khi tăng số lượng polyp rất nhanh.

Nếu chúng ta mắc bệnh polyp túi mật nên khám xét bằng siêu âm bụng sẽ phát hiện. Cho đến nay, polyp này lành tính chưa thấy có khả năng ác tính theo các nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước.

Cholesterol là gì?

Polyp dạng này liên quan đến cholesterol, đây là loại lipid đơn giản, là một chất béo steroid, không tan trong nước nhưng khi kết hợp với muối mật trong các hạt mixen sẽ tan được trong nước.

Cholesterol có ở màng tế bào của tất cả các mô trong cơ thể, và được vận chuyển trong huyết tương.

Cholesterol có 2 nguồn: ngoại sinh, và nội sinh. Nguồn gốc nội sinh: cholesterol được hấp thu từ ruột vào máu.

Nguồn gốc ngoại sinh là phần lớn cholesterol được sinh tổng hợp tại gan. Hai dạng chính chuyên chở cholesterol trong máu là LDL (lipoprotein có tỉ trọng thấp), và HDL (lipoprotein có tỉ trọng cao) là hai chất mà chúng ta cần quan tâm.

Cholesterol có tỉ trọng thấp (LDL-c:Low Density Lypoprotein-cholesterol) là cholesterol “xấu” vì LDL có vai trò chuyên chở cholesterol từ gan đi khắp cơ thể mà các tiểu thể LDL-c lại dễ dàng bị oxy hóa.

Các gốc tự do được sinh ra trong quá trình oxy hóa này sẽ: tăng ngưng tụ tiểu cầu; kích thích tăng sinh cơ trơn thành mạch. Các LDL-c oxy hóa bị các đại thực bào bắt giữ, tạo nên các tế bào bọt, tích tụ thành mảng bám vào thành động mạch gây hẹp lòng mạch, mất tính đàn hồi, xơ vữa động mạch, gây đột quỵ.

Cholesterol có tỉ trọng cao (HDL-c: High Density Lipoprotin-cholesterol) là cholesterol “tốt” vì HDL được tổng hợp từ gan và ruột non.

Nhiệm vụ của HDL là chuyển cholesterol từ HDL sang IDL và LDL để trở về gan, ngoài ra có thể HDL hấp thu các tinh thể cholesterol bắt đầu đóng trên thành mạch máu, như vậy sẽ chống lại việc tích tụ cholesterol ở thành mạch gây bệnh xơ vữa động mạch, tức là nó có lợi cho cơ thể. Như vậy HDL sẽ giúp làm giảm nguy cơ đau tim và giảm nguy cơ gây xơ vữa động mạch. Nhưng nếu nồng độ HDL thấp (dưới 40 mg/dL) cũng làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch.

Khi cholesterol có nhiều trong tế bào sẽ ức chế sự sinh tổng hợp cholesterol mới và ức chế sinh tổng hợp của lipoprotein có tỉ trọng thấp (LDL). Khi nồng độ LDL trong máu quá cao, đại thực bào sẽ chứa đầy cholesterol ester hóa tạo thành mãng xơ vữa thành mạch.

Tỉ lệ LDL/HDL lớn dẫn đến nguy cơ tích tụ cholesterol nhiều ở thành mạch gây xơ vữa động mạch do thiếu HDL không vận chuyển được cholesterol về gan.

Nếu LDL càng lớn dẫn đến nguy cơ bị xơ vữa động mạch càng lớn. Ngược lại nếu HDL càng lớn thì xơ vữa động mạch càng thấp. Khi tỉ lệ LDL/HDL > 5 thì nguy cơ bệnh mạch vành càng tăng. Khi HDL/LDL tăng thì tiên lượng tốt.

Trong cơ thể, hầu hết cholesterol huyết thanh là LDL-C, do đó khi cholesterol toàn phần tăng thì cũng là biểu hiện nguy cơ của bệnh mạch vành.

điều trị - phòng bệnh như thế nào?

Thay đổi lối sống:

Trước hết, chúng ta chú ý đên chế độ ăn: cholesterol có nhiều trong mỡ động vật và lòng đỏ trứng gà nên hạn chế ăn các loại thức ăn này. Đừng để cơ thể quá mập bằng cách tính chỉ số BMI = cân nặng cơ thể/chiều cao bình phương. Bình thường = 18,5 - 22,9.

Thứ đến, chú ý vận động cơ thể: đi bộ và hoạt động cơ thể nhiều hơn sẽ làm cho HDL trong máu cao và giảm cholesterol trong máu.

Hóa chất cholestipol, bột lúa mạch làm giảm cholesterol trong máu. Mevinolin làm giảm cholesterol máu do ức chế men HMG-CoA reductaza, giảm LDL từ 25 - 45%.

Cuối cùng, chú ý không hút Thu*c lá, hạn chế rượu bia.

Các Thu*c làm giảm cholesterol:

- Thu*c statin (Atorlip, Fluvastatin, Atorvastatin, Lovastatin, Pravastatin, Rosuvastatin, và Simvastatin) làm giảm tổng hợp cholesterol và LDL-choleterol (loại cholesterol xấu) mặt khác, statin làm tăng HDL-cholesterol (loại chllesterol tốt). Do đó, statin giúp làm ổn định các mảng bám xơ vữa mạch máu và vì vậy làm giảm nhồi máu cơ tim và đột quỵ.

- Các loại Thu*c ức chế(như ezetimibe) làm giảm quá trình hấp thụ cholesterol thông qua qua chế độ ăn uống.

- Fibrates (dẫn xuất acid fibric và có tên chung là fenofibrate và gemfibrozil) làm giảm lượng triglycerides trong máu và làm tăng HDL.

- Acid Bile resin(acid bile sequestrants và được biết đến với cái tên cholestyramine, colesevelam và colestipol) làm giảm lượng cholesterol LDL.

Niacin(còn được gọi là acid nicotinic) là một loại vitamin nhóm B (B3) giúp làm giảm triglycerides và LDL, làm tăng HDL khi chúng ta sử dụng với liều lượng lớn.

Mangyte.vn, Theo TS.BS. Nguyễn Anh Tuyến - Sức khỏe và Đời sống

Nguồn: Internet
  • Thay đổi khẩu vị trong điều trị ung thư

    Thay đổi khẩu vị trong điều trị ung thư
    Ung thư và quá trình điều trị ung thư sẽ làm thay đổi khẩu vị. Nên chọn các thực phẩm giàu đạm và trình bày đẹp mắt để giúp cho khẩu vị ngon hơn
  • Chế độ dinh dưỡng sau khi kết thúc điều trị ung thư

    Chế độ dinh dưỡng sau khi kết thúc điều trị ung thư
    Phần lớn những tác dụng phụ liên quan đến việc ăn uống do điều trị ung thư sẽ biến mất sau khi kết thúc quá trình điều trị. Vài lời khuyên cho một chế độ ăn uống tốt sau trị liệu ung thư.
  • Ảnh hưởng của quá trình điều trị ung thư đến dinh dưỡng

    Ảnh hưởng của quá trình điều trị ung thư đến dinh dưỡng
    Cơ thể cần thêm năng lượng và chất dinh dưỡng để lành vết thương, chống nhiễm trùng và phục hồi sau phẫu thuật. Nếu bệnh nhân bị thiếu hoặc suy dinh dưỡng trước khi mổ, quá trình hồi phục có thể gặp trở ngại.
  • Điều trị những triệu chứng do ung thư

    Điều trị những triệu chứng do ung thư
    Khi ung thư hay việc điều trị ung thư gây ra tác dụng phụ ảnh hưởng đến việc ăn uống bình thường, những thay đổi là cần thiết để cung cấp đủ dinh dưỡng cho bệnh nhân. Thu*c có thể được dùng để kích thích khẩu vị.
  • Ứng dụng của doxycycline trong điều trị nhãn khoa

    Ứng dụng của doxycycline trong điều trị nhãn khoa
    Doxycycline là một kháng sinh nhóm cycline, từ lâu được dùng để điều trị bệnh trứng cá đỏ, viêm tiết niệu, viêm dạ dày - ruột, nhiễm Chlamydia...
  • Tự điều trị cao huyết áp

    Tự điều trị cao huyết áp
    Cao huyết áp là một chứng bệnh về tim mạch của người cao tuổi, nhất là hiện nay chế độ ăn uống đầy đủ, số người béo phì xuất hiện nhiều. Bệnh này là một trong những nguyên nhân dẫn đến đột quỵ và để lại nhiều di chứng nặng nề.
  • Điều trị cao huyết áp không dùng Thuốc

    Điều trị cao huyết áp không dùng Thuốc
    Trong các phương pháp điều trị bệnh cao HA, bên cạnh việc dùng Thuốc có những phương pháp mang tính cổ truyền có thể giúp mọi người phòng ngừa và điều trị tốt bệnh này.
  • Hỗ trợ điều trị viêm bàng quang

    Hỗ trợ điều trị viêm bàng quang
    Viêm bàng quang, niệu đạo là một bệnh lý rất thường gặp với các triệu chứng sốt, đau tức bụng dưới, táo bón, đái dắt, đái khó, đái buốt, đái đục hoặc có mủ,…
  • Điều trị ra mồ hôi trộm bằng y học cổ truyền

    Điều trị ra mồ hôi trộm bằng y học cổ truyền
    Đối với YHCT, ra mồ hôi trộm hay còn gọi là chứng Đạo hãn, nguyên nhân phần lớn do âm huyết không đầy đủ hoặc hoạt động công năng của khí bị cản trở. Bài viết cung cấp các thể điển hình của đạo hãn và một số phương pháp chữa trị.
  • Chăm sóc răng miệng trong điều trị ung thư

    Chăm sóc răng miệng trong điều trị ung thư
    Điều trị ung thư ảnh hưởng đến tất cả bộ phận của cơ thể, trong đó có răng miệng.
1 Tiếp » 
Tải ứng dụng Mạng Y Tế trên CH PLAY