Tiểu tiện không tự chủ ở người cao tuổi

Tiểu tiện tự chủ liên quan đến trạng thái tâm thần, hoạt động của thần kinh vận động, tình trạng các đường tiểu tiện dưới, sinh lý bàng quang. Tiểu tiện không tự chủ thường là vấn đề của lão khoa.
Mục lục

Tiểu tiện không tự chủ do mất sự điều khiển đối với bàng quang, cơ tròn là một vấn đề người già rất quan tâm vì nó ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày; nó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc phải gửi các cụ vào các trại dưỡng lão tập trung, chính vì vậy nó cũng ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý chung. Không nên chỉ bằng lòng với chẩn đoán là tiểu tiện không tự chủ mà phải xem nó thuộc về loại gì, nhất thời hay kinh diễn, nguyên nhân của hiện tượng đó, từ đó có biện pháp xử trí thích hợp.

Những nguyên nhân nhất thời

Tiểu tiện tự chủ liên quan đến trạng thái tâm thần, hoạt động của thần kinh vận động, tình trạng các đường tiểu tiện dưới, sinh lý bàng quang. Tiểu tiện không tự chủ thường là vấn đề của lão khoa. Mặc dù các nguyên nhân của tiểu tiện không tự chủ đã được biết, các điều kiện sau đây có thể làm cho sự mất tự chủ đó kéo dài, nếu không được phát hiện và xử lý; các điều kiện đó có mối quan hệ khăng khít với các nguyên nhân nói trên.

Bảng. Phân loại tiểu tiện không tự chú trong lão khoa

Rối loạn nhất thời

Trạng thái mê sảng - lú lẫn.

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (triệu chứng).

Viêm niệu đạo - Viêm âm đạo teo.

Thuốc.

Tâm lý, nhất là trầm cảm nặng.

Đái nhiều (suy tim, tăng đường huyết).

Hạn chế vận động.

Ảnh hưỏng của ghế ngồi.

Rối loạn cố định

Tăng hoạt động cơ bàng quang.

Giảm hoạt động cổ bàng quang.

Tắc nghẽn niệu đạo.

Niệu đạo bất lực.

Mê sảng

Trạng thái mê sảng làm cho không đánh giá được nhu cầu tiểu tiện, không xác định được có phải là nhà vệ sinh không. Mê sảng là nguyên nhân hay gặp nhất của tiểu tiện không tự chủ ở bệnh nhân nằm tại bệnh viện. Hết mê sảng, tiểu tiện lại bình thường.

Nhiễm khuẩn

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu là nguyên nhận rất thường gặp gây nên tiểu tiện không tự chủ có tính chất triệu chứng.

Viêm niệu đạo - viêm âm đạo teo

Hay có sự kết hợp giữa viêm teo âm đạo và viêm teo niệu đạo. Ở những chỗ đó, niêm mạc bị mòn, co giãn mao mạch, chấm xuất huyết, xung huyết, vết xước, ban đỏ. Viêm niệu đạo thường lan đến tam giác bàng quang gây tiểu tiện không tự chủ ở phụ nữ. Những trường hợp này có thể điều trị bằng Destrogen ngắn ngày (0,3 - 0,6mg tiêm phối hợp với oestrogen uống. Điều trị tại chỗ tốn kém hơn và cũng bất tiện).

Bảng. Các thuốc có thể gây tiểu tiện không tự chủ

Loại thuốc

Ví dụ

Tác động đến tiểu tiện

Lợi niệu

Furosemid

Đái nhiều, cấp thiết

Kháng tiết cholin

Kháng histamin, trihexyphenidyl, benztropin, dicyclomin, disopyramid.

Ứ nước giải. Đái quá mức không tự chủ. Mê sảng. Bí đại tiện.

Thuốc hưóng tâm thần

Amitriptylin, Desipramin.

Kháng tiết cholin.

Thuốc chống trầm cảm

Tác dụng làm dịu.

Thuốc chống loạn thần

Thioridazln, Haloperidol.

Tác dụng kháng tiết cholin làm dịu, cứng cơ, bất động.

An thần gây ngủ

Diazepam, Flurazepam.

An thần, mê sảng, bất động.

Gây mê - Chống đau

Bí đại, tiểu tiện. Làm dịu - Mê sảng.

Bloc anpha adrenergic

Prazosin, Terazosin.

Thư giãn niệu đạo. Tiểu tiện không tự chủ do xúc cảm ở nữ.

Chủ vận anpha adrenergic

Thuốc tan máu.

Bí đái ở nam.

Ức chế ACE (men chuyển đổi angiotensin)

Captopril, Enalopril.

Stress gầy mất tự chủ ở nữ - Thuốc gây ho.

Bloc dòng calci

Tất cả các loại.

Ứ tiểu tiện.

Rượu

Đái nhiều cấp thiết. Làm dịu - Mê sảng - Bất động.

Vincristin

Bí tiểu tiện.

Nguyên nhân do thuốc

Thuốc cũng có thể gây tiểu tiện không tự chủ. Những thuốc hay gây triệu chứng đó được liệt kê trong bảng.

Yêu tố tâm lý

Đặc biệt trong hội chứng trầm cảm và rối loạn tâm thần.

Đái nhiều

Đái nhiều có thể vượt khả năng kìm chế đối với người già, không kịp đến nơi tiểu tiện; Ngoài các thuốc lợi niệu, có thể là uống quá nhiều nước (một số người cho rằng uống nhiều nước là tốt). Rối loạn chuyển hóa (tăng đường huyết), tăng calci huyết, đái tháo nhạt), các rối loạn kèm theo phù ngoại biên (suy tim, suy tĩnh mạch, nifedipin, thuốc chống viêm không steroid), trạng thái hạ protid máu (suy dinh dưỡng, xơ gan).

Hạn chế vận động

Nếu phục hồi được sự vận động bình thường của bệnh nhân già thì có thể khắc phục được hiện tượng tiểu tiện không tự chủ. Có những trường hợp bệnh nhân không đi lại được thì phải dùng các ghế có khoét lỗ ở giữa, để bô ở dưới, đặt tại phòng ngủ.

Bí đại tiện

Đây cũng là một nguyên nhân phổ biến của tiểu tiện không tự chủ, nhất là đối với bệnh nhân nằm trong bệnh viện hoặc phải bất động. Cơ chế chưa được biết rõ lắm nhưng nó có thể là khởi đầu của tình trạng đại tiểu tiện không tự chủ. Thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp loại bỏ được táo bón ứ phân trong ruột, có thể làm tiểu tiện trở lại bình thường.

Những nguyên nhân gây tiểu tiện không tự chú kinh diễn

Loại nguyên nhân này chỉ nên nghĩ đến sau khi đã xử lý các nguyên nhân nhất thời không kết quả.

Hoạt động quá mức của cơ bức niệu

Hoạt động quá mức của cơ bức niệu làm cho sự co bóp của bàng quang không thể ức chế được, dẫn đến tiểu tiện không tự chủ, nước tiểu thoát ra ngoài. Đây là nguyên nhân hay gặp nhất về tiểu tiện không tự chủ trong lão khoa, chiếm đến 2 phần 3 trường hợp không kể các bệnh nhân sa sút trí tuệ ở nữ giới, nghĩ đến có hoạt động quá mức cơ bức niệu khi thoát nước tiểu xẩy ra không do stress không có bí đái trước đó và bắt đầu bằng nhu cầu cấp thiết phải đi tiểu ngay không thể kìm hãm được, ở nam giới triệu chứng cũng như vậy nhưng hoạt động quá mức cơ bức niệu có thể do sự tồn tại đồng thời của niệu đạo. Trường hợp này có thể làm một test niệu động học như cho một thuốc thư giãn bàng quang. Hoạt động quá mức của cơ bức niệu có thể do có sỏi bàng quang hoặc khối u, nên có thể có rối loạn ở tầng sinh môn, trên xương mu, đái ra máu kèm theo tiểu tiện không tự chủ. Trong những trường hợp nghi vấn nên soi bàng quang và làm xét nghiệm tế bào học.

Tiểu tiện không tự chủ do stress

Nguyên nhân thứ hai hay gặp nhất của tiểu tiện không tự chủ kinh diễn ở phụ nữ già (ít gặp hơn đối với nam giới) là stress. Ớ đây, nước tiểu thoát ra ngay khi có stress. Hiện tượng này có thể chỉ xẩy ra trong ngày và do nguyên nhân gì đó khác (ví dụ do hoạt động quá mức của cơ bức niệu). Nhằm thăm dò tiểu tiện không tự chủ do stress, có thể yêu cầu bệnh nhân thư giãn tầng sinh môn và ho mạnh (chỉ ho một cái) trong tư thế đứng khi bàng quang đầy. Nước tiểu sẽ thoát ra tức khắc, mạnh. Triệu chứng đó cho phép nghĩ là tiểu tiện không kiềm chế được, nhất là khi không có bí đái trước đã được xác định bằng thông bàng quang hay siêu âm. Một khoảng cách vài giây cho phép nghĩ là sự thoát nước tiểu là do co bóp bàng quang không ức chế được khi ho.

Tắc niệu đạo

Ít khi gặp ở nữ giới. Tắc niệu đạo là nguyên nhân thứ hai hay gặp ở tiểu tiện không tự chủ kinh diễn của nam giới. Tắc có thể do phì đại tuyến tiền liệt, u tuyến tiền liệt, co thắt niệu đạo, co thắt cổ bàng quang, ung thư tuyến tiền liệt. Biểu hiện có thể là chảy nước tiểu nhỏ giọt không tự chủ sau khi đi tiểu tiện, không tự chủ do hoạt động quá mức của cơ bức niệu (song song tồn tại trong khoảng 2 phần 3 trường hợp) hoặc bài tiết quá mức không tự chủ được sau khi bị bí tiểu tiện. Siêu âm thận có chỉ định để loại trừ ứ nước bể thận ở nam giới. Nếu là trường hợp có chỉ định phẫu thuật thì việc xác định niệu động học là cần thiết nhằm phát hiện tắc đường niệu.

Hoạt động kém của cơ bức niệu

Hoạt động kém của cơ bức niệu là nguyên nhân sau cùng gây tiểu tiện không tự chủ. Nó có thể vô căn hoặc do rối loạn thần kinh vận động vùng thấp, của xương cùng. Khi nó gây nên tiểu tiện không tự chủ, cơ bức niệu giảm hoạt động hay dẫn đến tăng tần suất đi tiểu đêm và thoát nước tiểu lượng ít một. Tăng lượng nước tiểu tồn đọng (thường quá 450ml) cho phép phân biệt nguyên nhân này với hiện tượng hoạt động quá mức của cơ bức niệu và tiểu tiện không tự chủ do stress. Tuy nhiên chỉ có các thăm dò niệu động học (tốt hơn là soi bàng quang hoặc chụp đường niệu đường tĩnh mạch) mới phân biệt được với nghẽn niệu đạo ở nam giới. Nhưng phương pháp này ít dùng cho phụ nữ vi ở họ ít khi gặp nghẽn niệu đạo

Điều trị

Đối với các nguyên nhân nhất thời

Khi phát hiện được nguyên nhân của tiểu tiện không tự chủ nhất thời, cần chữa ngay và không nên quên là một nguyên nhân cố định vẫn có thể song song cùng tồn tại; có như vậy mới điều trị bệnh được tận gốc. Đối với bệnh nhân bí đái do thuốc chống trầm cảm, hoặc thuốc an thần kinh, có nhiều cách giải quyết. Trước hết, nếu bệnh lui dần, trong trường hợp trầm cảm (từ 6 đến 12 tháng) hoặc trong trường hợp kích động (vài ngày sau khi bệnh thuyên giảm) có thể ngừng dùng thuốc. Nếu không được như vậy thì có thể áp dụng thử một số biện pháp khác như tâm lý liệu pháp, sốc điện đối với trầm cảm, cải thiện môi trường sống, huấn luyện định hướng, điều trị các bệnh như viêm khớp, viêm bao khớp là các bệnh hay làm tăng kích động cho bệnh nhân. Nếu tình trạng vẫn còn phải dùng thuốc thì thay bằng một thuốc không có tác dụng chống tiết cholin hoặc một thuốc ít tác dụng chống tiết cholin hơn (ví dụ fluoxetin, triazodon, hoặc IMAO đối với trầm cảm haloperidol, benzodiazepin đối với kích động. Cuối cùng có thể dùng bethanechol (10 - 25mg mỗi ngày 3 lần) nhưng chỉ nên dùng khi vẫn có chỉ định dùng các thuốc chống tiết cholin.

Đối với nguyên nhân gây tiểu tiện không tự chủ kinh diễn

Cơ bức niệu hoạt động quá mức:

Vấn đề căn bản ở đây là điều trị sửa chữa về tập tính. Đối với các bệnh nhân hợp tác được, hướng dẫn họ đi tiểu mỗi giờ hoặc 2 giờ một làn khi thức. Khi bệnh nhân đã tương đối tự chủ được tiểu tiện, nên nâng dần khoảng cách mỗi lần 30 phút, theo một trình tự phù hợp cho đến khi khoảng cách hai lần đi tiểu đạt từ 4 đến 5 giờ. Phần lớn bệnh nhân nếu thực hiện đầy đủ yêu cầu này có thể dần dần tự chủ được tiểu tiện ban ngày, rồi cuối cùng cũng tự chủ được cả ban đêm.

Đối với bệnh nhân khó hợp tác cần hỏi khi nào họ cần đi tiểu. Trên cơ sở đó nắm được nhu cầu và chủ động yêu cầu bệnh nhân đi tiểu trước khi xảy ra tiểu tiện không tự chủ. Khi cần thiết phải dùng thuốc thì cần xem những thuốc này có tác dụng phụ gì để chỉ định dùng thuốc cho thích hợp tránh trong lúc hạn chế được tiểu tiện khống tự chủ lại làm cho bệnh nhân bị đái nhiều. Thuốc có tác dụng chống tiết cholin phải bắt đầu cho với liều thấp rồi nâng dần, có theo rõi. Oxybutynin với liều 2,5 - 5mg mỗi ngày 3 - 4 lần, có tác dụng nhanh nên hay được dùng, nhưng cũng không nên dùng liên tục, mà dùng ngắt quãng. Imipramin (25 - 100mg nằm tại giường) và Doxepin (25 - 100mg nằm tại giường) có tác dụng chậm hơn nhưng có ưu điểm là chỉ cần dùng thưa và cần thiết khi bệnh nhân đồng thời có cả trầm cảm. Với những loại thuốc này cần theo rõi kỹ đề phòng tụt huyết áp tư thế đứng. Thuốc chẹn calci có chỉ định khi bệnh nhân có thì tâm thu kéo dài, cơn đau thắt ngực hoặc tăng huyết áp. Có tác giả chủ trương dùng Flavoxat nhưng hiệu quả của thuốc chưa rõ ràng. Nên tránh dùng Propanthelin vì hay có tác dụng phụ kiểu kháng tiết cholin nhất là đối với người già đã suy yếu nhiều hoặc lú lẫn.

Đối với các trường hợp không đáp ứng với thuốc, có thể dùng xông gián đoạn. Trong trường hợp này có thể dùng một chất thư giãn bàng quang và trong một ngày có thể bơm đẩy bàng quang 3 - 4 lần.

Biện pháp cuối cùng khi các cách làm trên không kết quả là dẫn lưu ra ngoài vào một bình chứa hoặc dùng đệm lót bảo vệ, quàn áo lót đặc biệt có thể thấm được nước tiểu.

Tiểu tiện không tự chủ do stress

Rối loạn kiểu này hay gặp nhất, chiếm từ 75 đến 85% trường hợp, cả đối với phụ nữ già. Cách điều trị có hiệu quả nhất là dùng phẫu thuật. Đối với bệnh nhân nữ không muốn dùng phẫu thuật, chấp nhận chịu đựng tình trạng này thì có thể hỗ trợ bằng các phương pháp luyện tập các cơ vùng chậu cũng có kết quả trong một số trường hợp. Thường phối hợp kỹ thuật nón âm đạo hoặc hoàn ngược (vaginac cones, biofeedback). Nếu không có chống chỉ định, có thể dùng alpha adrenergic chủ vận như phenylpropanolamin (25 - 50mg hai lần một ngày) đối với tiểu tiện không tự chủ loại nhẹ hoặc vừa. Nên phối hợp với oestrogen liên kết (0,3 - 0,6mg mỗi ngày). Khi cần thiết, có thể dùng thuốc đạn đặt âm đạo hoặc một tăm bông (đối với phụ nữ có hẹp âm đạo). Hay dùng đối với bệnh nhân già yếu.

Niệu đạo

Dùng phẫu thuật giải phóng chỗ bị tắc nghẽn là cách điều trị có hiệu quả nhất, đặc biệt là khi có bí đái. Đối với bệnh nhân không muốn phẫu thuật thl phải dùng xông, thông đái ngắt quãng hoặc lưu tại chỗ, nhưng không dùng bao cao su. Đối với bệnh nhân nam cao tuổi có nghẽn niệu đạo do tuyến tiền liệt, nhưng không đồng ý phẫu thuật, có thể dùng chất đối kháng alpha adrenergic (ví dụ Terazosin 10mg mỗi ngày) hoặc chất finasteroid ức chế 5 alpha reductase. Kết quả khả quan về phương diện triệu chứng đối với 1 phần 3 bệnh nhân. Nhưng kết quả thường chậm, phải hàng tháng.

Cơ bức niệu giảm hoạt động

Đối với bệnh nhân có bàng quang bóp quá yếu có thể áp dụng một số biện pháp làm tăng bài niệu bằng cách tăng cường số lần đi tiểu hoặc ấn bóp vùng trên xương mu. Thuốc loại bethanechol thường ít tác dụng. Nếu cần thiết thì tháo rỗng bàng quang, nhất là đối với bệnh nhân mất khả năng co bóp bàng quang thì cần phải thông đái ngắt quãng hay để xông tại chỗ. Chỉ nên cho kháng sinh khi có nhiễm khuẩn đường tiết niệu trên hoặc khi cần đề phòng nhiễm khuẩn tại chỗ ở những bệnh nhân phải thông đái nhiều lần. Không nhất thiết phải dùng kháng sinh đối với tất cả các loại thông với xông tại chỗ đã thực hiện một cách vô khuẩn.

Nguồn: Internet.
Nguồn: Điều trị
1  ... Tiếp » 

Một số dạng nấm gây nhiễm trùng cơ hội

Một số dạng nấm gây nhiễm trùng cơ hội
Trong các tổ chức của bệnh nhân bị bệnh nấm sợi đen, nấm có mầu đen hoặc mầu nâu nhạt, tế bào nấm đen hoặc cả hai

U nấm: Mycetoma, Maduromycosis và Actinomycetoma

U nấm: Mycetoma, Maduromycosis và Actinomycetoma
Tất cả các thuốc khác có thể nên dùng trong nhiều tháng và tiếp tục dùng trong vài tháng sau khi triệu chứng lâm sàng được cải thiện để dự phòng tái phát. Phẫu thuật mở rộng giúp cho sự liền sẹo.

Nhiễm nấm da kéo dài: chẩn đoán và điều trị

Bệnh nấm Sporotrichum: chẩn đoán và điều trị

Các nhiễm trùng do Penicillium marneffei: chẩn đoán và điều trị

Bệnh nấm Blastomyces vùng nam mỹ: paracocci Dioimomycosis

Bệnh ấu trùng di trú nội tạng: bệnh giun toxocara

Bệnh ấu trùng di trú nội tạng: bệnh giun toxocara
Phương pháp phòng bệnh ở người tốt nhất là điều trị định kỳ chó con, mèo con, chó và mèo mẹ đang trong thời kỳ cho con bú, bắt đầu từ 2 tuần sau khi đẻ

Bệnh giun tóc: bệnh giun roi ngựa

Bệnh giun tóc: bệnh giun roi ngựa
Bệnh nhân nhiễm giun nhẹ không triệu chứng không cần phải điều trị. Trường hợp nhiễm giun nặng hơn hoặc có triệu chứng, điều trị mebendazol, albendazol hoặc oxantel.

Bệnh giun xoắn: chẩn đoán và điều trị

Bệnh giun chỉ Onchocera: chẩn đoán và điều trị

Bệnh giun chỉ Loa loa: chẩn đoán và điều trị

Bệnh giun móc: chẩn đoán và điều trị

Bệnh Lyme: nhiễm Borrelia Lyme

Bệnh Lyme: nhiễm Borrelia Lyme
Căn bệnh này, được đặt tên theo thị trấn old Lyme, Connecticut, do xoắn khuẩn Borrelia burgdoíeri gây nên, lây truyền cho người qua ve bọ ixodid, một bộ phận của phức hệ Ixodes ricinus.

Bệnh do Leptospira: chẩn đoán và điều trị

Bệnh do Leptospira: chẩn đoán và điều trị
Nước tiểu có thể có sắc tố mật, protein, cặn và hồng cầu. Đái ít không phải là ít gặp và trong các trường hợp nặng tăng urê máu có thể xuất hiện

Sốt do chuột cắn: xuắn khuẩn, bệnh Sodocu

Sốt hồi quy: chẩn đoán và điều trị

Bệnh xoắn khuẩn không lây qua đường tình dục: chẩn đoán và điều trị

Các giai đoạn lâm sàng của Giang mai: chẩn đoán và điều trị

Những điều cần chú ý trong chăm sóc nguời già

Những điều cần chú ý trong chăm sóc nguời già
Những công trình nghiên cứu gần đây chứng minh sự cần thiết điều trị ngoại trú người tăng huyết áp tâm thu và tâm trương cũng như chỉ có tăng huyết áp tâm thu đơn thuần.

Phản ứng thuốc, bệnh do thuốc gây nên ở người cao tuổi

Phản ứng thuốc, bệnh do thuốc gây nên ở người cao tuổi
Chỉ sử dụng thuốc khi các biện phấp điều trị không dùng thuốc không có kết quả hoặc không đủ hiệu lực hoặc không thể thực hiện được

Tiểu tiện không tự chủ ở người cao tuổi

Trạng thái mất ổn định ở người cao tuổi: mất ổn định thể lực, ngã, đi chệnh choạng

Tình trạng bất động ở bệnh nhân cao tuổi

Giảm sút trí tuệ ở người cao tuổi

Theo dõi bệnh nhân trong quá trình hỗ trợ dinh dưỡng

Theo dõi bệnh nhân trong quá trình hỗ trợ dinh dưỡng
Những bệnh nhân có cân bằng nitơ dương tính có thể được tiếp tục chế độ hiện tại của họ, những bệnh nhân có cân bằng nitơ âm tính thì nên tăng vừa phải lượng calo và protein đưa vào, sau đó đánh giá lại.

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa
Các biến chứng chuyển hóa của hỗ trợ dinh dưỡng đường tĩnh mạch trung tâm xảy ra ở trên 50% số bệnh nhân. Hầu hết là nhẹ và dễ xử trí, hiếm khi cần phải ngừng hỗ trợ dinh dưỡng.

Các dung dịch hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa

Các dung dịch hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa

Nhu cầu dinh dưỡng của bệnh nhân

Hạ đường huyết do Pentamidin: chẩn đoán và điều trị

Hạ đường huyết do Pentamidin: chẩn đoán và điều trị
Tiếp theo liệu trình điều trị đầy đủ bằng pentamidin, cần theo dõi glucose máu lúc đói hay glycohemoglobin sau đó để đánh giá phạm vi phục hồi tế bào β tụy hoặc di chứng tổn thương.

Hạ đường huyết do bệnh lý miễn dịch: chẩn đoán và điều trị

Hạ đường huyết do bệnh lý miễn dịch: chẩn đoán và điều trị
Muộn hơn sau khi phần lớn thức ăn được hấp thu, nồng độ insulin cao một cách không thích hợp phân ly khỏi phần kháng thể gắn vào nó, gây ra hạ đường huyết.

Hạ đường huyết giả tạo

Hạ đường huyết liên quan với rượu: lúc đói sau uống rượu

Hạ đường huyết sau bữa ăn: phản ứng

Hạ đường huyết do u ngoài tụy: chẩn đoán và điều trị

Rối loạn tâm thần tình dục (chẩn đoán và điều trị)

Rối loạn tâm thần tình dục (chẩn đoán và điều trị)
Đặc điểm chính của kích thích tình dục là chúng thường có nguồn gốc tâm lý ban đầu. Sự nghèo nàn về kinh nghiệm quan hệ tình dục khác giới sẽ càng củng cố đặc điểm này theo thời gian.

Những vấn đề tâm thần liên quan đến nằm viện và các rối loạn do dùng thuốc, phẫu thuật

Những vấn đề tâm thần liên quan đến nằm viện và các rối loạn do dùng thuốc, phẫu thuật
Những vấn đề về hành vi, thường liên quan đến phủ định bệnh. Trong những trường hợp cực đoan, những vấn đề này có thể thúc đẩy bệnh nhân trốn viện, làm ngược lại chỉ dẫn về y tế.

Các rối loạn tâm thần ở người cao tuổi: chẩn đoán và điều trị

Mê sảng, sa sút trí tuệ và các rối loạn nhận thức: hội chứng não thực thể

Phụ thuộc các chất hỗn hợp và dung môi: chẩn đoán và điều trị

Phụ thuộc Caffein: chẩn đoán và điều trị nghiện cà phê

Hội chứng liệt chu kỳ: periodic paralysis syndrome

Hội chứng liệt chu kỳ: periodic paralysis syndrome
Ở thanh niên Châu Á, hội chứng này thường đi kèm hội chứng cường giáp, điều trị là cần điều chỉnh nội tiết trước và phòng cơn tái phát sau đó.

Các rối loạn bệnh lý cơ: chẩn đoán và điều trị

Các rối loạn bệnh lý cơ: chẩn đoán và điều trị
Các bệnh cơ ty lạp thể là một nhóm các rối loạn có biểu hiện lâm sàng đa dạng. Xét nghiệm mô bệnh học với phương pháp nhuộm Gomori cải tiến cho hình ảnh tổn thương đặc trưng

Các rối loạn liên quan đến sử dụng kháng sinh Aminoglycosid

Bệnh ngộ độc thịt: ngộ độc clostridium botulinum

Hội chứng nhược cơ: hội chứng Lambert Eaton

Bệnh nhược cơ nặng: chẩn đoán và điều trị

Khối u tinh hoàn: chẩn đoán và điều trị

Khối u tinh hoàn: chẩn đoán và điều trị
Trong khi nguyên nhân của ung thư tinh hoàn còn chưa rõ, cả yếu tố bẩm sinh và mắc phải cũng đi kèm với sự phát triển khối u

Khối u ở thận: chẩn đoán và điều trị

Khối u ở thận: chẩn đoán và điều trị
Những khối u thận thường được phát hiện đầu tiên bằng chụp hệ tiết niệu cản quang qua đường tĩnh mạch. Muốn đánh giá sâu hơn thì cần siêu âm để xác định xem u dạng rắn hay u dạng nang.

Ung thư niệu quản và bể thận: chẩn đoán và điều trị

Ung thư bàng quang: chẩn đoán và điều trị

Ung thư tuyến tiền liệt: chẩn đoán và điều trị

Tăng sản tuyến tiền liệt lành tính: chẩn đoán và điều trị

Các bệnh đa hệ thống có tổn thương thận

Các bệnh đa hệ thống có tổn thương thận
Cần điều trị bệnh nhân bị đa u tủy xương có protein Bence Jones niệu bằng melphalan và prednison. Tránh làm tăng calci máu và uống nhiều nước

Bệnh nang thận: chẩn đoán và điều trị

Bệnh nang thận: chẩn đoán và điều trị
Đau bụng và mạng sườn là do nhiễm khuẩn, chảy máu trong nang hoặc do sỏi thận. Điều trị thông thường bằng các thuốc giảm đau và nghỉ ngơi tại giường

Bệnh ống thận mô kẽ mạn tính: chẩn đoán và điều trị

Các bệnh ống thận - tổ chức kẽ

Bệnh thận thể hiện cả hội chứng thận hư và thận viêm

Bệnh thận hư do các bệnh hệ thống: chẩn đoán và điều trị