Phản ứng thuốc, bệnh do thuốc gây nên ở người cao tuổi

Chỉ sử dụng thuốc khi các biện phấp điều trị không dùng thuốc không có kết quả hoặc không đủ hiệu lực hoặc không thể thực hiện được
Mục lục

Nhận định chung

Phản ứng thuốc gặp nhiều ở người già, gấp từ 2 đến 3 lần so với người trẻ. Biến đổi về mặt hấp thụ thuốc thường không ảnh hưởng về phương diện lâm sàng, kể cả trong tình trạng không acid chlorhydric. Nhưng về mặt thanh thải lại có sự giảm sút đáng kể. Sở dĩ có hiện tượng này là do giảm lưu lượng huyết tương ở thận, giảm mức lọc cầu thận cũng như giảm sự thanh thải ở gan. Hiện tượng sau là do giảm hoạt độ các men chuyển hóa thuốc tại các tiểu thể microsom, đồng thời có giảm máu lưu thông tại gan khi tuổi đã cao. Thể tích phân bố thuốc cũng có sự thay đổi. Do ở tuổi già có giảm lượng nước toàn thân đồng thời có tăng lượng mỡ toàn thân nên những thuốc hòa tan trong nước bị cô đặc hơn và thuốc hòa tan trong mỡ lại có nửa đời sống dài hơn. Không những thế, albumin huyết thanh có nồng độ giảm đi, đặc biệt ở những bệnh nhân ốm yếu lâu ngày, vì vậy, có giảm mức gắn của một số thuốc vào protein (ví dụ Warfarin, Phenytoin) khiến cho số thuốc tự do (hoạt động) lại tăng hiệu lực.

Thêm vào sự thanh thải thuốc bị giảm sút do động lực thuốc thay đổi, do nhiều lý do khác nhau, sự đáp ứng với thuốc của người già cũng có nhiều thay đổi. Với cùng một nồng độ thuốc trong huyết thanh như nhau, sự đáp ứng ở người già thường rất khác nhau. Nhìn chung người già dễ nhậy cảm hơn với một số thuốc (ví dụ đối với opioid) nhưng lại ít nhậy cảm với một số thuốc khác (ví dụ đối với các beta adrenergic).

Cần phải nêu lên rằng do mắc nhiều bệnh kinh diễn bệnh nhân già thường dùng quá nhiều thuốc. Bản thân người già cũng dễ lầm lẫn thuốc men do mắt kém, nghe không rõ, trí nhớ giảm, động tác không chính xác nên việc sử dụng thuốc có nhiều sai sót. Vì vậy các biến đổi của cơ thể đã già yếu, cộng với những sai lầm trong sử dụng thuốc đã dẫn đến những phản ứng và bệnh do thuốc gây nên.

Những điều thận trọng khi dùng thuốc ở nguời già

Để tránh tai biến do sử dụng thuốc ở người già cần chú ý những điểm sau:

Việc chọn thuốc và cách cho thuốc

Đảm bảo là triệu chứng cần điều trị không phải là triệu chứng do một thuốc khác gây nên.

Chỉ sử dụng thuốc khi các biện phấp điều trị không dùng thuốc không có kết quả hoặc không đủ hiệu lực hoặc không thể thực hiện được. Cân nhắc kỹ tới dùng thuốc và tác hại nếu dùng thuốc.

Nếu phải dùng thuốc thì nên bắt đầu bằng một liều thấp so với liều thường dùng ở người trẻ, sau đó tăng dần liều có tính đến các yếu tố dược động học ở cơ thể già. Tuy nhiên giữa từng cá thể cũng có những sự khác nhau về phân bố và sự thanh thải thuốc, vì vậy cũng có bệnh nhân có thể cho ngay liều cần thiết từ lúc đầu. Xác định các biện pháp cần thực hiện (tăng hay giảm liều) tùy theo đáp ứng của cơ thể đối với thuốc.

Phác đồ dùng thuốc cần giản đơn, dễ thực hiện. Không nên dùng quá nhiều thuốc cùng một lúc.

Nếu bệnh nhân hoặc người nhà được phát nhiều thuốc cùng một lúc thi nên hướng dẫn lại cách dùng từng thứ thuốc, liều lượng. Nếu có điều kiện thì nói cả những tác dụng không mong muốn có thể xẩy ra.

Ở những cơ sở điều trị có điều kiện nên định lượng nồng độ thuốc trong huyết thanh, nhất là đối với các thuốc có độc tính cao hoặc có lề an toàn rất hẹp như phenytoin, theophylin, quinidin, aminoglycosid, lithium. Cũng vẫn thực hiện đối với một số thuốc hướng tâm thần như nortriptylin. Cũng cần lưu ý là ngộ độc vẫn có thể xẩy ra đối với nồng độ thuốc gọi là "bình thường" nhất là đối với digoxin, phenytoin.

Các dược sỹ không nên cấp phát thuổc dưới dạng lọ đầy thuốc cho bệnh nhân lú lẫn, có nguy cơ tự vẫn hoặc đang sống cùng các trẻ nhỏ.

Trường hợp dùng thuốc quá liều

Phản ứng thuốc có thể do dùng thuốc quá liều quy định hoặc dùng nhầm thuốc của những người khác ở cùng nhà (nhà dưỡng lão tập trung). Mọi thuốc ngủ hoặc các thuốc kháng histamin dùng quá liều đều có thể gây nên tình trạng lơ mơ lú lẫn cũng như các tác dụng phụ kèm kháng tiết cholin (ví dụ khô mồm miệng, nhìn mờ, lú lẫn, bí đái hoặc đái không tự chủ.) Ngoài ra Ibuprofen và naproxen đôi khi bệnh nhân tự mua để dùng không có đơn của thầy thuốc, có thể gây tác dụng phụ ở hệ thận - tiết niệu và hệ thần kinh trung ương.

Các thuốc an thân gây mê

Tốt nhất để chống mất ngủ là dùng các biện pháp không dùng thuốc. Trường hợp không có hiệu quả có thể dùng một số thuốc sử dụng ngắn ngày, tác dụng nhanh chuyển hóa không bị biến đổi do tuổi già (ví dụ: oxazepam 10 -30mg/ngày). Hạn chế dùng benzodiazepin loại tác dụng nhanh hay tác dụng chậm cho người già vì có thể gây lú lẫn. Khi có trầm cảm thật thì có thể dùng các thuốc chống trầm cảm, nhưng nếu không phải bệnh mà dùng thì có thể gây mê.

Kháng sinh

Creatinin huyết thanh không phải là một căn cứ đáng tin cậy để đánh giá chức năng thận ở người già. Nồng độ của các chất có độc tính cao được đào thải qua đường thận phải được định lượng trực tiếp.

Các thuốc tim mạch

Digitalis, procainamid, quiĩiidin có thời gian bán hủy dài ở người già, có hành lang điều trị an toàn hẹp, vì vậy nhiễm độc hay gặp kể cả với liều lượng thông thường. Các biểu hiện nhiễm độc của digoxin, đặc biệt là chán ăn, lú lẫn, trầm cảm, đều có thể quan sát thấy với liều điều trị quy định.

Thuốc chẹn thụ thể H2

Cimetidin và Ranitidin giao thoa, trở ngại cho chuyển hóa thuốc tại gan làm tăng tỷ lệ ngộ độc đối với các thuốc chuyển hóa chủ yếu tại gan (như propranolol, lidocain, warfarin, theophylin, phenytoin), Ngoài ra tất cả các thuốc ức chế thụ thể H2 đều ít nhiều có thể gây nên lú lẫn ở người già. Do những chất này được đào thải qua thận nên chỉ dùng liều thấp cũng đủ và hạn chế được nguy cơ nhiễm độc.

Các thuốc chống trầm cảm và chống loạn tâm thần

Thuốc chống trầm cảm và chống loạn tâm thần hay gây nên tác dụng phụ kiểu kháng tiết cholin ở người già như lú lẫn, bí đái, táo bón, khô mồm miệng. Có thể hạn chế những tác dụng phụ đó bằng cách dùng những chất không hoặc có ít tác dụng kháng tiết cholin. Tuy nhiên do trầm cảm và hưng phấn hay xen kẽ nhau cho nên chú ý chỉ nên sử dụng ngắt quãng các chất này.

Thuốc chữa glocom

Không những các chất chẹn bêta có thể gây tác dụng phụ toàn thân mà cả các chất ức chế cacbonic anhydrase cũng thế. Thuốc này thường gây khó chịu, chán ăn, sút cân. Những triệu chứng này có thể xuất hiện độc lập, không liên quan gì đến tình trạng nhiễm toan chuyển hóa.

Thuốc chống đông

Tuổi tác không phải là một chống chỉ định dùng thuốc chống đông máu. Bệnh nhân tuổi cao thường đáp ứng tốt với loại thuốc này hơn ở người trẻ.

Thuốc giảm đau

Meperidin và propoxyphen hay được dùng phối hợp với nhau và có thể gây mê sảng vì vậy không nên dùng phối hợp hai thuốc đó.

Tránh lạm dụng thuốc

Thuốc không cần thiết, không có chỉ định dùng trong một sổ trường hợp lâm sàng sau đây:

Đái ra vi khuẩn không biểu hiện lâm sàng không cần dùng kháng sinh. Có thể cân nhắc dùng khi có tắc nghẽn đường niệu, có sỏi kèm theo.

Phù mắt cá chân thường do suy tĩnh mạch, do dùng thuốc (loại chống viêm không steroid, loại kháng calci) do bất động, suy dinh dưỡng. Thuốc lợi niệu không có chỉ định dùng, trừ khi do suy tim, nhiều khi chỉ cần dùng băng ép hoặc bít tất ép.

Cơn đau cách hồi: không cần dùng Pentoxitylin. Chỉ cần luyện tập đều đặn trong vòng 30 phút, 3 lần mỗi tuần.

Nguồn: Internet.
Nguồn: Điều trị
1  ... Tiếp » 

Một số dạng nấm gây nhiễm trùng cơ hội

Một số dạng nấm gây nhiễm trùng cơ hội
Trong các tổ chức của bệnh nhân bị bệnh nấm sợi đen, nấm có mầu đen hoặc mầu nâu nhạt, tế bào nấm đen hoặc cả hai

U nấm: Mycetoma, Maduromycosis và Actinomycetoma

U nấm: Mycetoma, Maduromycosis và Actinomycetoma
Tất cả các thuốc khác có thể nên dùng trong nhiều tháng và tiếp tục dùng trong vài tháng sau khi triệu chứng lâm sàng được cải thiện để dự phòng tái phát. Phẫu thuật mở rộng giúp cho sự liền sẹo.

Nhiễm nấm da kéo dài: chẩn đoán và điều trị

Bệnh nấm Sporotrichum: chẩn đoán và điều trị

Các nhiễm trùng do Penicillium marneffei: chẩn đoán và điều trị

Bệnh nấm Blastomyces vùng nam mỹ: paracocci Dioimomycosis

Bệnh ấu trùng di trú nội tạng: bệnh giun toxocara

Bệnh ấu trùng di trú nội tạng: bệnh giun toxocara
Phương pháp phòng bệnh ở người tốt nhất là điều trị định kỳ chó con, mèo con, chó và mèo mẹ đang trong thời kỳ cho con bú, bắt đầu từ 2 tuần sau khi đẻ

Bệnh giun tóc: bệnh giun roi ngựa

Bệnh giun tóc: bệnh giun roi ngựa
Bệnh nhân nhiễm giun nhẹ không triệu chứng không cần phải điều trị. Trường hợp nhiễm giun nặng hơn hoặc có triệu chứng, điều trị mebendazol, albendazol hoặc oxantel.

Bệnh giun xoắn: chẩn đoán và điều trị

Bệnh giun chỉ Onchocera: chẩn đoán và điều trị

Bệnh giun chỉ Loa loa: chẩn đoán và điều trị

Bệnh giun móc: chẩn đoán và điều trị

Bệnh Lyme: nhiễm Borrelia Lyme

Bệnh Lyme: nhiễm Borrelia Lyme
Căn bệnh này, được đặt tên theo thị trấn old Lyme, Connecticut, do xoắn khuẩn Borrelia burgdoíeri gây nên, lây truyền cho người qua ve bọ ixodid, một bộ phận của phức hệ Ixodes ricinus.

Bệnh do Leptospira: chẩn đoán và điều trị

Bệnh do Leptospira: chẩn đoán và điều trị
Nước tiểu có thể có sắc tố mật, protein, cặn và hồng cầu. Đái ít không phải là ít gặp và trong các trường hợp nặng tăng urê máu có thể xuất hiện

Sốt do chuột cắn: xuắn khuẩn, bệnh Sodocu

Sốt hồi quy: chẩn đoán và điều trị

Bệnh xoắn khuẩn không lây qua đường tình dục: chẩn đoán và điều trị

Các giai đoạn lâm sàng của Giang mai: chẩn đoán và điều trị

Những điều cần chú ý trong chăm sóc nguời già

Những điều cần chú ý trong chăm sóc nguời già
Những công trình nghiên cứu gần đây chứng minh sự cần thiết điều trị ngoại trú người tăng huyết áp tâm thu và tâm trương cũng như chỉ có tăng huyết áp tâm thu đơn thuần.

Phản ứng thuốc, bệnh do thuốc gây nên ở người cao tuổi

Phản ứng thuốc, bệnh do thuốc gây nên ở người cao tuổi
Chỉ sử dụng thuốc khi các biện phấp điều trị không dùng thuốc không có kết quả hoặc không đủ hiệu lực hoặc không thể thực hiện được

Tiểu tiện không tự chủ ở người cao tuổi

Trạng thái mất ổn định ở người cao tuổi: mất ổn định thể lực, ngã, đi chệnh choạng

Tình trạng bất động ở bệnh nhân cao tuổi

Giảm sút trí tuệ ở người cao tuổi

Theo dõi bệnh nhân trong quá trình hỗ trợ dinh dưỡng

Theo dõi bệnh nhân trong quá trình hỗ trợ dinh dưỡng
Những bệnh nhân có cân bằng nitơ dương tính có thể được tiếp tục chế độ hiện tại của họ, những bệnh nhân có cân bằng nitơ âm tính thì nên tăng vừa phải lượng calo và protein đưa vào, sau đó đánh giá lại.

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa
Các biến chứng chuyển hóa của hỗ trợ dinh dưỡng đường tĩnh mạch trung tâm xảy ra ở trên 50% số bệnh nhân. Hầu hết là nhẹ và dễ xử trí, hiếm khi cần phải ngừng hỗ trợ dinh dưỡng.

Các dung dịch hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa

Các dung dịch hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa

Nhu cầu dinh dưỡng của bệnh nhân

Hạ đường huyết do Pentamidin: chẩn đoán và điều trị

Hạ đường huyết do Pentamidin: chẩn đoán và điều trị
Tiếp theo liệu trình điều trị đầy đủ bằng pentamidin, cần theo dõi glucose máu lúc đói hay glycohemoglobin sau đó để đánh giá phạm vi phục hồi tế bào β tụy hoặc di chứng tổn thương.

Hạ đường huyết do bệnh lý miễn dịch: chẩn đoán và điều trị

Hạ đường huyết do bệnh lý miễn dịch: chẩn đoán và điều trị
Muộn hơn sau khi phần lớn thức ăn được hấp thu, nồng độ insulin cao một cách không thích hợp phân ly khỏi phần kháng thể gắn vào nó, gây ra hạ đường huyết.

Hạ đường huyết giả tạo

Hạ đường huyết liên quan với rượu: lúc đói sau uống rượu

Hạ đường huyết sau bữa ăn: phản ứng

Hạ đường huyết do u ngoài tụy: chẩn đoán và điều trị

Rối loạn tâm thần tình dục (chẩn đoán và điều trị)

Rối loạn tâm thần tình dục (chẩn đoán và điều trị)
Đặc điểm chính của kích thích tình dục là chúng thường có nguồn gốc tâm lý ban đầu. Sự nghèo nàn về kinh nghiệm quan hệ tình dục khác giới sẽ càng củng cố đặc điểm này theo thời gian.

Những vấn đề tâm thần liên quan đến nằm viện và các rối loạn do dùng thuốc, phẫu thuật

Những vấn đề tâm thần liên quan đến nằm viện và các rối loạn do dùng thuốc, phẫu thuật
Những vấn đề về hành vi, thường liên quan đến phủ định bệnh. Trong những trường hợp cực đoan, những vấn đề này có thể thúc đẩy bệnh nhân trốn viện, làm ngược lại chỉ dẫn về y tế.

Các rối loạn tâm thần ở người cao tuổi: chẩn đoán và điều trị

Mê sảng, sa sút trí tuệ và các rối loạn nhận thức: hội chứng não thực thể

Phụ thuộc các chất hỗn hợp và dung môi: chẩn đoán và điều trị

Phụ thuộc Caffein: chẩn đoán và điều trị nghiện cà phê

Hội chứng liệt chu kỳ: periodic paralysis syndrome

Hội chứng liệt chu kỳ: periodic paralysis syndrome
Ở thanh niên Châu Á, hội chứng này thường đi kèm hội chứng cường giáp, điều trị là cần điều chỉnh nội tiết trước và phòng cơn tái phát sau đó.

Các rối loạn bệnh lý cơ: chẩn đoán và điều trị

Các rối loạn bệnh lý cơ: chẩn đoán và điều trị
Các bệnh cơ ty lạp thể là một nhóm các rối loạn có biểu hiện lâm sàng đa dạng. Xét nghiệm mô bệnh học với phương pháp nhuộm Gomori cải tiến cho hình ảnh tổn thương đặc trưng

Các rối loạn liên quan đến sử dụng kháng sinh Aminoglycosid

Bệnh ngộ độc thịt: ngộ độc clostridium botulinum

Hội chứng nhược cơ: hội chứng Lambert Eaton

Bệnh nhược cơ nặng: chẩn đoán và điều trị

Khối u tinh hoàn: chẩn đoán và điều trị

Khối u tinh hoàn: chẩn đoán và điều trị
Trong khi nguyên nhân của ung thư tinh hoàn còn chưa rõ, cả yếu tố bẩm sinh và mắc phải cũng đi kèm với sự phát triển khối u

Khối u ở thận: chẩn đoán và điều trị

Khối u ở thận: chẩn đoán và điều trị
Những khối u thận thường được phát hiện đầu tiên bằng chụp hệ tiết niệu cản quang qua đường tĩnh mạch. Muốn đánh giá sâu hơn thì cần siêu âm để xác định xem u dạng rắn hay u dạng nang.

Ung thư niệu quản và bể thận: chẩn đoán và điều trị

Ung thư bàng quang: chẩn đoán và điều trị

Ung thư tuyến tiền liệt: chẩn đoán và điều trị

Tăng sản tuyến tiền liệt lành tính: chẩn đoán và điều trị

Các bệnh đa hệ thống có tổn thương thận

Các bệnh đa hệ thống có tổn thương thận
Cần điều trị bệnh nhân bị đa u tủy xương có protein Bence Jones niệu bằng melphalan và prednison. Tránh làm tăng calci máu và uống nhiều nước

Bệnh nang thận: chẩn đoán và điều trị

Bệnh nang thận: chẩn đoán và điều trị
Đau bụng và mạng sườn là do nhiễm khuẩn, chảy máu trong nang hoặc do sỏi thận. Điều trị thông thường bằng các thuốc giảm đau và nghỉ ngơi tại giường

Bệnh ống thận mô kẽ mạn tính: chẩn đoán và điều trị

Các bệnh ống thận - tổ chức kẽ

Bệnh thận thể hiện cả hội chứng thận hư và thận viêm

Bệnh thận hư do các bệnh hệ thống: chẩn đoán và điều trị