Nghiên cứu về tế bào gốc

Tế bào gốc là loại tế bào đặc biệt, nó thay thế và tái tạo lại các mô bị ảnh hưởng bởi bệnh tật, tuổi tác... Nghiên cứu tế bào gốc đem lại hy vọng…
Mục lục
Việc toàn bộ tế bào trong cơ thể người hoạt động trơn tru là yếu tố quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tốt. Trong cơ thể người trưởng thành có đến hàng trăm loại tế bào chuyên biệt khác nhau. Các tế bào cũng đảm nhiệm các chức năng rất cụ thể trong từng mô và cơ quan mà chúng cấu thành. Với các bệnh như Parkinson, tế bào chết vượt quá khả năng thay thế của cơ thể, dẫn đến những suy giảm chức năng của các cơ quan, và cái chết là điều khó có thể tránh khỏi.

Tế bào gốc là loại tế bào với khả năng đặc biệt, có thể thay thế các tế bào và tái tạo lại các mô bị ảnh hưởng bởi bệnh tật, tuổi tác hoặc chấn thương. nghiên cứu về tế bào gốc đem lại hy vọng cho hàng triệu người. Từ những bệnh nhân Parkinson- những người mà não đã ngừng sản xuất dopamine cho đến những bệnh nhân tiểu đường- những người mà tụy không còn khả năng sản sinh insulin; đến hàng triệu người khác với các bệnh thoái hóa như bệnh xơ cứng cột bên teo cơ (ALS, amyotrophic lateral sclerosis) hay những người bị liệt do chấn thương tủy sống.

Tế bào gốc là gì ?

Mọi động vật có vú đều sinh ra từ sự kết hợp của hai tế bào, tinh trùng và trứng, tạo thành một tế bào đơn nhất gọi là hợp tử. Hợp tử này lại tiếp tục phân chia theo cấp số nhân thành các tế bào chuyên biệt, hình thành các loại cơ quan và hệ thống, cấu thành mọi loại mô của một sinh vật mới.

Một tế bào gốc là một tế bào chưa trưởng thành, có thể biến đổi thành một tế bào gốc mới hoặc thành những loại tế bào khác. Phần lớn tế bào gốc có khả năng tự làm mới bản thân thông qua quá trình phân chia không giới hạn. Hai đặc điểm này chính là yếu tố cơ bản đem lại một phương thức mới để chữa trị các tổn thương của cơ thể người gây ra bởi chấn thương, thoái hóa và bệnh tật.

Các loại tế bào gốc

Đến nay, nghiên cứu về tế bào gốc đã phát hiện hai loại tế bào gốc cơ bản: tế bào phôi thai và tế bào trưởng thành.

Tế bào gốc phôi thai là tế bào được tìm thấy trong phôi thai hoặc các mô của bào thai. Tế bào gốc phôi thai có thể là toàn năng (totipotent) hoặc vạn năng (pluripotent). Tế bào gốc toàn năng là tế bào phôi thai trong một vài tuần lễ đầu sau thụ tinh có tiềm năng biến đổi thành bất kỳ tế bào nào trong cơ thể. Còn tế bào gốc vạn năng là tế bào có thể biến đổi thành bất kỳ loại tế bào nào trong cơ thể trừ các tế bào cần thiết để phát triển thai nhi.

Tế bào gốc trưởng thành, ngược lại, là những tế bào không biệt hóa trong các mô chuyên biệt. Các tế bào gốc đó được tìm thấy trong những động vật có vú phát triển sau giai đoạn bào thai. Các tế bào gốc trưởng thành được gọi là tế bào gốc đa năng (multipotent), bởi chúng chỉ có thể biến đổi thành một loại tế bào xác định chứ không phải mọi loại tế bào. Một ví dụ về tế bào gốc đa năng đó là tế bào gốc máu , chỉ có thể trở thành tế bào bạch cầu, tế bào hồng huyết cầu hoặc tiểu cầu. Tế bào đó không thể trở thành tế bào thần kinh. Tế bào gốc trưởng thành có thể nhân bản trong suốt tuổi thọ của một sinh vật, nhưng chúng không thể nhân bản vô giới hạn như tế bào gốc toàn năng và vạn năng.

Sự phát triển của tế bào gốc

Sự phát triển của tế bào gốc toàn năng, vạn năng và đa năng được minh họa rõ nhất thông qua việc quan sát quá trình phát triển của một người bình thường. Một tế bào đơn nhất được tạo thành bởi trứng được thụ tinh có khả năng cấu thành toàn bộ cơ thể hoàn chỉnh. Tế bào đơn nhất đó chính là tế bào gốc toàn năng. Trong những giờ đầu tiên sau thụ tinh, tế bào đơn nhất bắt đầu phân chia thành hai tế bào toàn năng giống hệt nhau, chỉ cần một trong hai tế bào đó được đặt vào tử cung của một phụ nữ cũng có thể phát triển thành một bào thai tương ứng. Khoảng 4 ngày sau khi thụ tinh và sau nhiều chu kỳ phân chia, các tế bào toàn năng bắt đầu chuyên biệt hóa, hình thành túi phôi gọi là phôi nang. Phôi nang này bao gồm một lớp hình cầu tế bào bên ngoài và một khối tế bào bên trong. Lớp tế bào bên ngoài sẽ hình thành nhau thai và các mô hỗ trợ cho sự phát triển của phôi thai trong tử cung. Các tế bào thuộc khối bên trong, sẽ hình thành toàn bộ cơ thể của sinh vật. Tuy nhiên, chúng không thể tự hình thành một sinh vật sống được, lý do vì chúng không có khả năng hình thành nhau thai và các mô hỗ trợ cho sự phát triển của phôi thai. Các tế bào khối bên trong chính là tế bào gốc vạn năng. Trong giai đoạn cuối của sự phát triển, các tế bào vạn năng bắt đầu biến đổi thành các tế bào gốc đa năng chuyên biệt. Các tế bào gốc đa năng đến nay, có thể tìm thấy trong nhiều vùng của cơ thể, bao gồm cả vùng não hải mã và trong máu.

Tiến bộ hiện nay

Một phương pháp được biết đến với tên gọi “chuyển nhân tế bào sinh dưỡng” (somatic cell nuclear transfer-SCNT) đã tạo ra chú cừu nổi tiếng Dolly, sinh vật có vú nhân bản vô tính đầu tiên trên thế giới vào năm 1996. Với phương pháp SCNT, nhân của trứng chưa thụ tinh được thay thế bằng nhân của một tế bào sinh dưỡng thông thường, chứa đầy đủ thông tin di truyền. Chỉ trong vài ngày, tế bào này sẽ phát triển thành phôi của người hoặc trạng thái khởi đầu của chúng, chứa một nhóm tế bào gốc, với tiềm năng phát triển thành mọi loại tế bào trong cơ thể.

Dù các nhà khoa học đã nghiên cứu về sự phát triển của con người trong nhiều năm, nhưng chỉ đến năm 1998, họ mới có thể tách tế bào gốc vạn năng ra khỏi bào thai của người thành công và tiến hành nuôi dưỡng chúng trong phòng thí nghiệm. Với các đặc điểm của tế bào gốc vạn năng, ‘chúng có thể tái tạo vô hạn trong phòng nghiên cứu và phát triển thành hầu như mọi loại tế bào trong cơ thể’, phát hiện này của năm 1998 thật sự là một bước đột phá.

Những tiến bộ mới đây trong việc điều khiển, vận dụng tế bào gốc bào thai và tế bào gốc trưởng thành đã mở ra một chuỗi các phương pháp điều trị mới đầy tiềm năng cho các rối loạn bệnh lý của cơ thể con người. Có thể lấy ví dụ như một nghiên cứu mới đây đã cho thấy, các tế bào tuyến tụy được cấy ghép vào cơ thể bệnh nhân tiểu đường đã có thể sản xuất ra insulin.

Chính trị và đạo đức

nghiên cứu về tế bào gốc thường dấy lên nhiều tranh luận gay gắt, lý do là bởi các tế bào gốc phôi thai (được lấy từ phôi thai 5-7 ngày tuổi- còn gọi là phôi nang) và tế bào mầm phôi thai (embryonic germ cells), được lấy từ các thai chưa trưởng thành bị sẩy, chính là hai nguồn cung cấp đầy hứa hẹn. Có bốn nguồn tế bào gốc từ phôi thai chính, và tất cả đều bị dính líu đến vấn đề đạo đức và tranh cãi kịch liệt.

  • Các phôi thai dư thừa- sản phẩm phụ của quá trình thụ tinh trong ống nghiệm
  • Các phôi thai được tạo ra trong phòng thí nghiệm bởi tinh trùng và trứng hiến tặng
  • Các phôi thai được tạo ra thông qua SCNT- kỹ thuật nhân bản vô tính
  • Các phôi thai sau sẩy thai
Vào tháng 8 năm 2001, chính quyền liên bang Hoa Kỳ đã phê chuẩn kinh phí hỗ trợ cho nghiên cứu trên hơn 60 dòng tế bào gốc đã được tạo ra trong nghiên cứu tư nhân tại thời điểm đó. Để hội tụ đủ điều kiện nghiên cứu thông qua ngân sách liên bang, các dòng tế bào gốc đó phải đạt được những tiêu chuẩn như sau:

  • Phải được tạo ra dưới sự đồng ý của người hiến tặng
  • Chỉ được có nguồn gốc từ các phôi thai dư thừa được tạo ra với mục đích sinh sản
  • Được hiến tặng mà không cần đền bù tài chính cho người hiến tặng
Ngân sách liên bang sẽ không được sử dụng với các dòng tế bào gốc từ: phôi thai mới bị phá hủy; hành động tạo ra phôi thai người nhắm vào mục đích nghiên cứu; hoặc nhân bản vô tính phôi thai người. Quy định này không chỉ hạn chế các nhà khoa học sắp nhận tài trợ nghiên cứu từ chính phủ mà còn yêu cầu những nhà khoa học hiện làm việc trong các phòng nghiên cứu đang được hỗ trợ từ ngân sách liên bang phải thay thế hoặc phát triển các thiết bị cần thiết cho loại nghiên cứu này.

Máu cuống rốn

Máu cuống rốn, hay còn được gọi là “máu nhau thai”, là máu còn tồn dư trong cuống rốn và nhau thai sau khi sinh và cắt dây rốn. Chúng thường bị bỏ đi cùng với nhau thai và dây rốn nhưng thực chất lại là một nguồn tế bào gốc dồi dào. Khoảng 100ml máu có thể được lấy từ người nhau thai của mẹ ngay sau khi sinh để cấy ghép nếu cần.

Nhiều gia đình đã lựa chọn lưu trữ các tế bào gốc cuống rốn để chuẩn bị cho sức khỏe của các thành viên gia đình trong tương lai. Trường hợp điển hình là gia đình với đứa trẻ sinh ra bị mắc bệnh thiếu máu hồng cầu liềm (sickle cell anaemia). Khi người mẹ có thai đứa thứ hai, và máu của đứa bé được xác nhận là hoàn toàn phù hợp thì sau khi sinh, máu dây rốn của đứa trẻ mới sinh sẽ được lấy và truyền ngay sau đó vào đứa trẻ bị bệnh máu hình lưỡi liềm. Khi điều trị thành công, các tế bào gốc cuống rốn sẽ sống trong tủy xương của bệnh nhân và sản xuất ra các bạch huyết cầu khỏe mạnh.

Nhiều chuyên gia tin rằng truyền máu dây rốn có nhiều lợi thế riêng so với phương pháp cấy ghép tủy xương truyền thống trong việc kích thích phát triển của bạch huyết cầu khỏe mạnh. Việc thu thập máu dây rốn cũng đơn giản và không gây đau đớn, trong khi những người hiến tặng tủy xương phải trải qua quá trình gây mê toàn thân. Thêm vào đó, máu cuống rốn từ những người hiến tặng không thực sự có quan hệhuyết thống cũng không yêu cầu sự tương thích gần như tuyệt đối về kiểu mô như trong cấy ghép tủy xương. Tuy nhiên, vẫn có một số rủi ro, bởi người bệnh dễ bị nhiễm trùng và cơ thể có thể đào thải tế bào được hiến tặng.

Tế bào gốc trưởng thành

Tuy tế bào gốc vạn năng có vẻ rất hứa hẹn với các liệu pháp trị bệnh ở người, nghiên cứu tế bào gốc trưởng thành lại có một số tiềm năng nhất định. Việc thu thập các tế bào gốc trưởng thành có vẻ dễ dàng hơn và tránh được một số vấn đề đạo đức thường gặp với tế bào gốc phôi thai. Tất nhiên các tế bào này cũng có những vấn đề của riêng chúng. Tế bào gốc trưởng thành vẫn chưa được xác định trên mọi cơ quan của cơ thể, chúng là những tế bào đa năng, và khó được xác định hay phân lập. Đến nay đã có một số thành công với tế bào gốc trưởng thành từ tủy xương, máu cuống rốn và trong vùng não hải mã. Các tế bào gốc trưởng thành, ví dụ như tế bào gốc tạo máu trong tủy xương (hematopoietic stem cells- HSCs) hiện là loại tế bào gốc duy nhất được sử dụng rộng rãi trong việc điều trị bệnh ở người. HSCs đã được sử dụng trong các ca cấy ghép tủy xường từ hơn 40 năm nay. Nhiều kỹ thuật tiên tiến trong việc thu thập HSCs hiện cũng được sử dụng để điều trị bệnh bạch cầu (leukemia), ung thư hạch bạch huyết (lymphoma) và một số bệnh về máu có tính di truyền khác.

Một hạn chế đáng kể trong quá trình điều trị đó là thiếu tế bào cần thiết cho việc cấy ghép, bởi vì khi được nuôi cấy trên đĩa nuôi cấy, chúng không có khả năng nhân bản trong thời gian dài. Các nhà nghiên cứu cũng chưa thành công trong việc hướng các tế bào đó đến các chức năng tương đương với tế bào chuyên biệt. Nghiên cứu gần đây đã phát hiện khả năng chuyển biệt hóa là một đặc tính của tế bào gốc trưởng thành. Một số tế bào gốc trưởng thành đã cho thấy khả năng biệt hóa thành các loại tế bào chuyên biệt của mô khác nhau. Một mẫu thử nghiệm về tính chuyển biệt hóa với sự tham gia của tế bào gốc trưởng thành từ tủy xương đã tạo thành các tế bào tương tự như tế bào thần kinh– thành phần chức năng của hệ thần kinh tìm thấy trong bộ não và cột sống.

Các tế bào tiền thân

Một tế bào tiền thân (precursor cell), có thể tìm thấy trong mô trưởng thành và mô bào thai, là một tế bào chuyên biệt cục bộ, có thể tạo ra thêm nhiều tế bào tiền thân hoặc hai tế bào chuyên biệt khi phân chia. Ngược lại, khi một tế bào gốc phân chia, một trong hai tế bào mới có thể tự nhân bản lần nữa. Các tế bào tiền thân có thể thay thế tế bào bị tổn thương trong hệ thần kinh (tại đây chúng được gọi là tế bào tiền thân thần kinh) hoặc tại các bộ phận khác.

Nhiều nghiên cứu trước đây đã báo cáo về việc thu thập tế bào tiền thân thành công từ nhiều vùng trên não bộ (trong đó chủ yếu là vùng cạnh não thất bên- subventricular), nuôi cấy chúng trong phòng thí nghiệm và chuyển hóa chúng thành các tế bào thần kinh chức năng. Một thách thức đó là xác định tốt hơn những tế bào nguyên bản đó cũng như hiểu rõ cơ cấu phát triển và chuyên biệt hóa của chúng từ tế bào gốc phôi thai. Cả tế bào tiền thân thần kinh của bào thai và người lớn đều cho thấy nhiều hứa hẹn trong việc phục hồi não bộ. Trong những thí nghiệm gần đây, các tế bào đó đã cho thấy sự tồn tại và biệt hóa trong não động vật bị bệnh sau khi bị tổn thương. Có vẻ như bộ não chủ tiếp nhận các tế bào này, cũng có thể ảnh hưởng đến hoạt động của các tế bào mới. Tiềm năng của lĩnh vực nghiên cứu này vẫn còn rất lớn.

Các tế bào thần kinh xuất phát từ dòng tế bào ung thư cũng đã được nghiên cứu rộng rãi và thử nghiệm trên người. Nghiên cứu thực hiện trên động vật bình thường và sau khi bị tổn thương cho thấy các tế bào hoạt động tốt và có liên quan đến quá trình phục hồi của một số suy giảm thần kinh. Những thử nghiệm đầu tiên trên người với các bệnh nhân bị đột quỵ nhẹ, dẫn đến liệt, hiện vẫn đang được tiếp tục.

Ứng dụng của tế bào gốc trong giải phẫu thần kinh

Ngành giải phẫu thần kinh phục hồi hiện đại bắt đầu từ khoảng 30 năm trước, khi các nhà giải phẫu thần kinh và các nhà thần kinh học hình dung về tiềm năng của việc thay thế các tế bào thần kinh bị tiêu biến trong những bệnh nhân mắc các bệnh như Parkinson, Huntington. Tại thời điểm đó, người ta tin rằng tế bào thần kinh không có khả năng tái tạo- một học thuyết đã bị bác bỏ vào những năm 1990. Do đó, các thử nghiệm lâm sàng ban đầu thường dựa trên phương pháp tiếp cận trực tiếp, với mục tiêu thay thế các chất dẫn truyền thần kinh bị thiếu trong não thay vì tái tạo mạch thần kinh bị tương tổn. Gần đây, với sự ra đời của các phác đồ điều trị phát triển từ các công trình thử nghiệm với tế bào gốc và tế bào tiền thân, chúng ta có thể hy vọng rằng đích đến cuối cùng của lộ trình tái tạo đường dẫn truyền thần kinh có thể sẽ đạt được. Mục tiêu của lĩnh vực này có thể tóm tắt trong “thay thế”, “giải phóng”, và “tái sinh”. Có nghĩa là, các tế bào thần kinh chết cần phải được thay thế, các mô ghép phải có khả năng giải phóng ra các chất dẫn truyền thần kinh, và các mạch thần kinh phải được xây dựng lại. Tất nhiên, những mục tiêu đó chỉ có thể được đáp ứng khi các nhà khoa học hiểu được về cơ cấu của bệnh và cập nhật thường xuyên với tốc độ phát triển của các chiến lược công nghệ sinh học mới. Các mô ghép hiện nay thường từ mô bào thai, dòng tế bào ung thư và tế bào gốc đã được cấy ghép. Những thành công trên mô hình động vật đã đưa tới những thử nghiệm cấy ghép trên người để chữa trị bệnh Parkinson, bệnh Huntington, tổn thương cột sống và đột quỵ. Với các tiến bộ của việc nghiên cứu trên mô hình động vật, các cấy ghép thử nghiệm có thể đặt tiền đề cho việc chữa trị bệnh đa sơ cứng (multiple sclerosis), chấn thương sọ não, bại não, xơ cứng cột bên teo cơ (ALS), Alzheimer, và nhiều chứng rối loạn khác.

Tài liệu tham khảo

http://www.aans.org/en/Patient%20Information/Conditions%20and%20Treatments/
Stem%20Cell%20Research.aspx

http://stemcells.nih.gov/info/basics/pages/basics1.aspx

http://www.news-medical.net/health/Stem-Cell-Types-(French).aspx

Nguồn: Internet

Bình luận

1  ... Tiếp » 

Diễn biến sức khỏe 3 nạn nhân nguy kịch trong vụ hỏa hoạn ở TP.HCM

Diễn biến sức khỏe 3 nạn nhân nguy kịch trong vụ hỏa hoạn ở TP.HCM
Một nạn nhân bị bỏng nặng đã tử vong, 3 người phải cấp cứu trong tình trạng bỏng, suy hô hấp tại hai bệnh viện sau vụ cháy rạng sáng 31/5.

Bé 21 tháng bại não vì hóc trà sữa, cách cứu con trong 4 phút

Bé 21 tháng bại não vì hóc trà sữa, cách cứu con trong 4 phút
- Bé trai không may bị hóc thạch trong trà sữa, dù được đưa đến viện nhưng đã bị bại não, sống thực vật.

Bé trai Hải Dương nguy kịch, liệt nửa người vì viêm não

Phẫu thuật thành công cho 2 học sinh vụ cây phượng ngã đè

Bé 4 ngày tuổi ở Bắc Giang nguy kịch, phải thay toàn bộ máu

Bé gái hơn 1 tuổi ở Phú Thọ có 3 quả thận

Phù bạch huyết: dấu hiệu triệu chứng, nguyên nhân, chẩn đoán điều trị

Phù bạch huyết: dấu hiệu triệu chứng, nguyên nhân, chẩn đoán điều trị
Hệ bạch huyết là rất quan trọng để giữ cơ thể khỏe mạnh. Lưu thông dịch bạch huyết giàu protein trong cơ thể, thu thập vi khuẩn, virus và các sản phẩm chất thải

Xuất huyết giảm tiểu cầu tự phát ITP

Xuất huyết giảm tiểu cầu tự phát ITP
Xuất huyết giảm tiểu cầu tự phát hay còn gọi là xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch hay vô căn là một rối loạn đông cầm máu có thể dẫn đến dễ bầm tím hoặc chảy máu (xuất huyết).

Tìm hiểu về Bệnh Thalassemia

Bệnh Viêm phế quản cấp

Ebola Triệu chứng Xét nghiệm và Chẩn đoán bệnh Ebola

Ebola Triệu chứng Xét nghiệm và Chẩn đoán bệnh Ebola
Ebola là gì? Các triệu chứng thường gặp? Các đối tượng có nguy cơ mắc bệnh Ebola? Hướng dẫn xét nghiệm và chẩn đoán nhiễm virus Ebola.

Ebola là gì Triệu chứng và cách phòng chống virus Ebola

Ebola là gì Triệu chứng và cách phòng chống virus Ebola
Ebola là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Ebola gây nên. Nguồn lây bệnh, biểu hiện và những biện pháp phòng chống bệnh Ebola.

Bệnh sốt xuất huyết Dengue

Bệnh nhiễm ký sinh trùng Toxoplasma Toxoplasmosis

Thuốc điều trị HIV và AIDS

Tìm hiểu về Bệnh sốt rét Malaria

Cảnh báo nguy cơ suy thận nếu ăn nhiều quẩy chiên

Cảnh báo nguy cơ suy thận nếu ăn nhiều quẩy chiên
Quẩy chiên là một món ăn được nhiều người ưa thích bởi hương vị của nó kèm theo độ giòn tan bất tận. Tuy nhiên, quẩy chiên có chứa lượng muối nhôm nếu ăn nhiều và thường xuyên có thể làm ảnh hưởng xấu đến chức năng của thận, thậm chí gây suy thận.

Ăn gì để không thiếu vitamin A?

Ăn gì để không thiếu vitamin A?
Vitamin A là loại vitamin tan trong dầu mỡ có tác dụng tăng cường miễn dịch, làm tăng sức đề kháng của cơ thể chống lại các bệnh nhiễm khuẩn,

Ứng phó với ngộ độc thực phẩm trong mùa mưa lũ

Có nên cho trẻ ăn trứng mỗi ngày?

Mùa thu, ăn gì để giải độc?

Người bệnh tiểu đường có nên dùng dầu dừa?

Chăm sóc răng cho trẻ

Chăm sóc răng cho trẻ
Răng của trẻ bắt đầu phát triển dưới nướu trước cả khi chúng ta có thể nhìn thấy. Khoảng 6 tháng sau khi trẻ sinh ra, bạn có thể nhìn thấy chiếc răng đầu tiên. Đó chỉ mới là bước khởi đầu cho những nụ cười sẽ đi theo suốt cả đời người.

Chụp X quang trong nha khoa

Chụp X quang trong nha khoa
Một số lưu ý khi kiểm tra răng miệng bằng phim X quang.

Chẻ lưỡi và đeo trang sức trong miệng

Sức khỏe răng miệng trong thai kỳ

Mang lại nụ cười bằng hàm răng giả

Hôi miệng: những điều cần biết

Nguyên nhân và phương pháp giảm đau bụng kinh

Nguyên nhân và phương pháp giảm đau bụng kinh
Hầu như các bạn gái khi đến chu kỳ kinh nguyệt hay mắc phải chứng đau bụng kinh. Tuy nhiên không phải bạn gái nào cũng hiểu rõ nguyên nhân và cách điều trị đau bụng kinh.

Mẹo nhỏ giúp giảm đau ngực khi mang thai

Mẹo nhỏ giúp giảm đau ngực khi mang thai
Một số mẹo nhỏ như chườm lạnh, thoa kem, mặc áo ngực khi ngủ, tắm nước ấm có thể giúp giảm đau ngực trong suốt giai đoạn mang thai

Làm thế nào để thoát chứng trầm cảm sau sinh

Xoa bóp cải thiện sức khỏe cho phụ nữ có thai

Một số bệnh thường gặp khi mang thai

Nữ giới và bài học bảo vệ vùng kín

Xơ gan mật nguyên phát

Xơ gan mật nguyên phát
Xơ gan mật nguyên phát là một bệnh trong đó đường mật trong gan của bạn đang dần bị phá hủy. Xơ gan mật nguyên phát được cho là một bệnh tự miễn.

Bệnh Đau đa cơ dạng thấp

Bệnh Đau đa cơ dạng thấp
Đau đa cơ dạng thấp là tình trạng rối loạn viêm gây đau và cứng cơ, thường xảy ra ở vai, cổ, cánh tay và vùng bẹn

Thông tin về Bệnh Sarcoidosis

Phản vệ và sốc phản vệ Triệu chứng và cách điều trị

Viêm động mạch Takayasu

Thông tin về Bệnh xơ cứng bì